Cây đàn vĩ cầm của Paganini – truyện ngắn của Aleksandr Kuprin

Aleksandr Kuprin

Aleksandr Kuprin (1870 – 1938)

Aleksandr Kuprin là một trong những nhà văn Nga xuất sắc hồi cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Ở Việt Nam, có lẽ ông được độc giả biết đến qua tác phẩm “Chiếc vòng thạch lựu” và “Người tình của vua Sô lô mông” (Суламифь).

Tuy nhiên cá nhân Nina thì khi mua một tuyển tập truyện ngắn và truyện vừa của Kuprin, thì lại ấn tượng nhất với truyện ngắn “Cây đàn vĩ cầm của Paganini”

Nhân một ngày xấu trời, xin giới thiệu cùng bạn đọc

Cây đàn vĩ cầm của Paganini

Aleksandr Kuprin

Có ai còn chưa nghe đến truyền thuyết, rằng nghệ sĩ và nhạc sĩ vĩ cầm vĩ đại Niccolo Paganini, người gốc Venezia đã bán linh hồn của mình cho quỷ sứ, để đổi lấy một cây đàn vĩ cầm thần diệu? Đến cả Heinrich Heine – một người vô thần, hoài nghi và hay chế giễu mọi sự, một nhà thơ danh tiếng cũng tin vào truyền thuyết ấy. Bù lại, chẳng mấy ai biết được, cái hợp đồng trái đạo ấy kết thúc ra sao, và ai là người chiến thắng – con người hay kẻ thù của loài người. Giữa những người di gan lang thang ở Hungary có một truyền thuyết mờ mịt. Có nên tin truyền thuyết ấy hay không – tùy các ngài.

Niccolo Paganini

Niccolo Paganini (1782-1840)

Số phận rất khắc nghiệt đối với chàng thanh niên Niccolo trẻ tuổi vào cái năm ấy, khi nợ nần, thất bại và hàng trăm chuyện khó chịu lẻ tẻ khác bắt anh phải chạy từ Venezia đến Vien. Ở đó anh – một người chơi đàn rong – kéo đàn trong các đám cưới, hoặc đem cây đàn rẻ tiền của mình mua vui trong các quán rượu tồi tàn nhất. Anh không được vào các khách sạn tử tế, vì bộ cánh tồi tàn gồm đầy những mảnh giẻ.

Nhưng ngày tồi tệ nhất, đáng nguyền rủa nhất đối với Niccolo là ngày 21 tháng 10. Suốt từ sáng sớm, trận mưa với tuyết lạnh lẽo cứ dai dẳng. Đôi giày rách của chàng nghệ sĩ ướt hết, nhão ra theo từng bước chân, làm bắn đầy bùn, còn Paganini thì ướt và bẩn như một chú chó pudel vừa mới chui từ đầm lầy ra.

Một buổi tối vàng đục báo đầy điềm gở trải ra trên thành phố. Những ngọn đèn đường hiếm hoi khó khăn lắm mới xuyên qua được màn mưa. Trong lúc thời tiết như thế, trái tim người ta ít cảm thông hơn với nỗi đau khổ và sự nghèo khó của người khác, trong khi người nghèo khổ thì cảm thấy cái lạnh, cái đói và cái cô đơn nghiệt ngã gấp đôi.

Suốt cả ngày hôm đó Paganini chẳng kiếm được xu nào.. Mãi đến tận tối muộn, một người thợ mạ thiếc say mới đưa cho anh một cốc bia chưa uống hết, sau khi đã hắt tàn từ trong tẩu thuốc của mình vào đó. Còn ở một chỗ khác, một anh sinh viên ăn chơi ném cho anh ba krejcer và nói:

– Này, cầm lấy tiền và đừng cò cử nữa nhé!

Paganini cầm món tiền ấy và nghiến răng: “Được! Khi mà ta sẽ nổi danh – mày sẽ nhớ đến ba krejcer này!”

Cần phải nói rằng, trái với mọi rủi ro, bất hạnh, Paganini chưa bao giờ nghi ngờ vào tài năng của mình. “Mình chỉ cần có bộ cánh tử tế, một dịp may, với một cây vĩ cầm tốt – và mình sẽ làm cả thế giới phải ngạc nhiên!”. Quán rượu cuối cùng đơn giản là quẳng Paganini ra phố, vì mỗi bước đi của anh dội ra sàn hàng vũng nước. Với ba krejcer, Paganini mua một mẩu bánh mì trắng nhỏ, và ăn không một chút hài lòng trên đường về nhà. Khi anh mệt mỏi leo lên tận tầng trên cùng, vào căn phòng bé xíu và trơ trọi trên gác xép của mình, thì sự tuyệt vọng khôn cùng và cơn giận dữ khủng khiếp chiếm lấy tâm hồn tối tăm của anh. Anh giậm chân vứt cây đàn vĩ cầm ẩm ướt tội nghiệp của mình vào góc, và lấy tay đấm ngực, hét lên:

– Hỡi quỷ sứ! Hỡi quỷ sứ! Nếu ngươi không phải là óc tưởng tượng ngu ngốc của đàn bà, nếu ngươi thực sự tồn tại, thì hãy đến với ta ngay! Đang có một linh hồn con người kiêu hãnh bán rẻ kèm theo tài năng nghệ thuật! Nhanh lên! Nếu không thì ngươi còn gì với một kẻ nghèo khổ đã treo cổ?

Và quỷ sứ xuất hiện ngay lập tức. Hoàn toàn không xuất hiện trong màn khói xám, với mùi kinh tởm của loài dê, không hề có móng chẻ đôi thay cho bàn chân, không hề có một dấu hiệu gì của đuôi – quỷ sứ xuất hiện trong hình hài của một công chứng viên hay luật sư đã hơi già, mặc một chiếc áo camisole xám tươm tất với đăng ten cũ đã hơi ngả màu vàng. Một lọ mực, một chiếc bút lông ngỗng và một quyển sổ hợp đồng cũ kỹ – hắn cầm theo tất cả những thứ đó, và không vội vã bày ra trên chiếc bàn khập khiễng. Ngọn lửa trong chiếc đèn dầu sáng bùng lên.

– Cậu thấy không, chàng trai – quỷ sứ bắt đầu nói rất điềm tĩnh – tôi đến gặp cậu hoàn toàn không có những sự ồn ào rẻ tiền chợ búa, không có bất kỳ thứ mùi kinh khủng nào của địa ngục, và cũng không đòi hỏi cậu phải ký bằng máu. Chúng ta hãy bỏ những thứ đạo cụ sân khấu ngớ ngẩn ấy cho óc tưởng tượng nghèo nàn và bệnh hoạn của thời trung cổ. Thế kỷ của chúng ta là thế kỷ của sự lịch sự, của văn xuôi và số học. Tôi cũng không giấu gì cậu, rằng chúng tôi, quỷ sứ ấy, nếu trung thực và phục vụ khách chu đáo thì còn tiện lợi hơn là một sự lừa dối đơn giản. Vì vậy, cậu đừng có ngạc nhiên, là trong hợp đồng của chúng ta tôi sẽ không chỉ là người mua, mà nếu cần, thì đôi lúc tôi sẽ còn là luật sư của cậu nữa. Trước hết: cậu muốn được gì đổi lấy linh hồn của mình?

– Tiền! Vàng! Vàng thật nhiều!

– Thấy chưa, cậu đã cần đến trợ giúp pháp lý của tôi rồi đấy. Không có gì dễ hơn việc đòi quỷ sứ cho vàng. Điều này thì một thằng ngốc nào cũng làm được. Thế cậu nghĩ gì về vinh quang nhỉ?

– Vớ vẩn! Vinh quang có thể mua bằng tiền. Chỉ cần đừng quá hà tiện là được.

– Ồ không đâu anh bạn, cậu nói thiếu suy xét rồi. Vàng chỉ có thể mua được bọn xu nịnh. Nhưng cái vinh quang ấy sẽ không vượt quá giới hạn của vòng tròn, tạo bởi những kẻ xu nịnh ấy, còn tâm chính là anh, bị điếc tai vì những lời xu nịnh thô thiển nhất. Không, tốt hơn là cậu hãy kể cho tôi về điều gì khác. Ví dụ, về tình yêu chẳng hạn.

– Quỷ bắt ngài đi! Chính tình yêu mới là thứ dễ mua nhất thì có!

– Tình yêu nào cũng thế ư? Cậu nghĩ thế à? Vô ích, hoàn toàn vô ích, Niccolo trẻ trung của tôi! Nếu như tình yêu nào cũng bán, thì cả trái đất này, toàn bộ vũ trụ này đã hoàn toàn thuộc về quyền lực tuyệt vời của Quỷ sứ từ lâu lắm rồi. Và chúng tôi, những cộng sự của Quỷ, đã sống sung túc nhàn hạ bằng lương nhà nước. Cậu muốn không, tôi kể cho cậu một bí mật khủng khiếp nhé? Cậu có biết tại sao Quỷ sứ lại bất hạnh đến thế không? Bởi vì Quỷ rất muốn yêu, bằng tất cả sức lực của mình, nhưng Quỷ không thể yêu… Không đâu, chàng trai, nếu cậu muốn ký hợp đồng với tôi, một hợp đồng có lợi và trọng danh dự với cả hai phía, thì hãy dừng lại với những điều kiện đầu tiên, khiêm tốn của cậu: bộ cánh tử tế, một dịp may và một cây vĩ cầm tuyệt diệu.

Paganini nghĩ ngợi vài phút rồi nói một cách không quả quyết lắm:

– Tôi không từ bỏ dự định của mình. Tôi có cảm giác rằng, có lẽ ngài đúng, ngài luật sư ạ. Nhưng liệu trong lúc khó khăn vội vàng tôi có hét một giá quá rẻ cho linh hồn bất tử của tôi, linh hồn đã bị kết án trước cho những đau khổ vô tận và vĩnh cửu?

Luật gia im lặng cúi xuống, lôi từ dưới bàn ra một cái bao đàn lớn cũ kỹ, đã mòn góc làm từ da trâu và cẩn thận đưa cho Paganini.

– Cậu có thể tự nhìn cây vĩ cầm, thậm chí thử nó. Cái này là hoàn toàn miễn phí.

Paganini kính cẩn tháo những khuy cài bằng đồng mạ vàng của bao đàn, rút ra và đặt lên bàn ba lớp khăn phủ bao quanh cây đàn: lớp khăn bằng da cừu, khăn nhung và khăn lụa, – và cây đàn vĩ cầm thần kỳ được nâng lên cao, hiện ra trong toàn bộ sự tuyệt vời, hình dáng giống than thể một người phụ nữ khỏa thân hết sức cân đối, với cái đầu nhỏ, cổ thon và dài, hai bờ vai thoai thoải, và sự chuyển tiếp hết sức hài hòa từ vòng eo nhỏ nhắn tới hông.

– Đây không phải là Stradivarius – Paganini kinh ngạc thốt lên – nhưng đây cũng không phải là Amati, không phải Guarneri và cũng không phải Guadagnini! Đây là lý tưởng của cây vĩ cầm, mà loài người sẽ không đi xa hơn được, không thể đi xa hơn được! Ồ, như vậy là ngài cho phép tôi được chơi nó một chút chứ?

– Ồ vâng, xin mời, – quỷ đồng ý một cách miễn cưỡng, buồn tẻ và không mất nhiệt tình. – Tôi đã nói với cậu rồi.

Đàn vĩ cầm đã được lên dây, và mã vĩ đã được bôi nhựa thông vừa đủ. Và khi Paganini vừa mới kéo một khúc tức hứng rực lửa mạnh mẽ, thì lần đầu tiên chính Paganini hiểu ra – anh có một tài năng lớn đến thế nào, tài năng mà cho tới giờ vẫn bị sự nghèo khó đè bẹp. Và anh nói gần như vui vẻ:

– Thưa chủ nhân, tôi sẵn sàng được phục vụ ngài, và rất cám ơn ngài vì những lời khuyên thông thái. Tuy nhiên, tôi muốn được biết – nếu điều này không làm ngài khó xử – tại sao ngài lại có vẻ chán nản và u buồn, cứ như là ngài giận tôi vậy?

– Nếu mà nói thực lòng, – quỷ đứng dậy nói, – tôi hơi thất vọng vì cậu thực ra lại tài năng hơn rất nhiều so với tôi có thể đoán trước. Nhưng lời hứa là lời hứa. Cây vĩ cầm này thuộc về cậu trọn đời. Còn đây là một túi vàng nhỏ – cho thời gian ban đầu. Ngày mai sẽ có người tới gặp cậu: một bác thợ may với bộ quần áo cung đình, và một thợ cắt tóc nổi tiếng nhất thành Vien, rồi ngày kia thì cậu sẽ biểu diễn tại cuộc thi âm nhạc trang trọng do chính hoàng tử nước Áo tổ chức. Còn bây giờ, xin cậu vui lòng ký vào đây. Tốt rồi. Merci và hẹn gặp lại, chàng trai trẻ.

– Chúng ta sẽ mau gặp lại chứ? – Paganini, anh chàng người Venezia láu lỉnh hỏi.

– Điều đó thì tôi không biết, – quỷ trả lời khô khốc. – Tôi nghĩ rằng đến hết thời hạn cậu được cấp, không gần hơn. Bởi vì cậu đâu có đòi tôi được trường sinh nhỉ? Tôi rất khâm phục, maestro!

Paganini và cây vĩ cầm

Paganini và cây vĩ cầm

Quỷ sứ không lừa nghệ sĩ vĩ cầm ở điểm nào. Mọi sự xảy ra theo đúng kế hoạch đã nói. Sau cuộc thi âm nhạc do hoàng tử tổ chức, ngôi sao danh vọng của Paganini lên tới đỉnh điểm, tỏa sáng rực rỡ và đến ngày nay vẫn còn lấp lánh. Nhưng chính Niccolo Paganini thì lại trở thành một người bất hạnh nhất trên trái đất. Những dục vọng không được thỏa mãn, tính háo danh không đủ no, lòng tham lam vô độ đối với tiền bạc, và cùng với đó là sự keo kiệt kinh khủng; sự ghen tị tột cùng không chỉ đối với các nghệ sĩ đã sống, các nghệ sĩ đương đại, mà còn cả đối với các nghệ sĩ vĩ cầm tương lai đã đốt cháy tâm hồn của Paganini. Nhiều khi ông viết các tác phẩm của mình trong những tổ hợp nốt hết sức khó khăn, mà chỉ có một mình Paganini kéo được. Nhưng vốn thừa nhận sự vô tận của nghệ thuật thầm nhắc, rằng một ngày nào đó sẽ có một nghệ sĩ vĩ cầm khác, sẽ kéo những tác phẩm ma quỷ đó còn hay hơn Paganini, và đi xa hơn Paganini. Và người đó, nghệ sĩ tương lai đó, đã bị Paganini căm thù từ trước.

Khi đã trở thành triệu phú, thì Paganini vẫn nhặt những mẩu giấy, những đoạn dây buộc và đủ thứ linh tinh trên phố, còn thức ăn hàng ngày của ông không bao giờ vượt quá một thaler.

Bao nhiêu mỹ nhân tuyệt vời bị quyến rũ bởi nghệ thuật quá mức tưởng tượng của Paganini đã đến với ông, dâng cho ông trái tim, số phận của mình, nhưng Paganini luôn luôn quay lưng lại họ một cách ghê tởm – ông tin tưởng rằng họ chỉ muốn vàng của ông. Còn đối với một phu nhân sang trọng, vợ của một quan chức cao cấp, người muốn cùng chia sẻ với ông cả vinh quang, lẫn sự giàu có với tình yêu và sự nhục nhã của ly dị, thì Paganini trả lời, ném lên bàn mấy đồng tiền xu: “Xin bà chuyển cho chồng bà ba krejcer này. Trước đây ông ta đã ném cho tôi ba krejcer để tôi không kéo vĩ cầm nữa; còn bà thì tôi mời bà đi, hiện giờ tôi bận tập đàn…”

Bao nhiêu bạn bè và người hâm mộ đích thực bị Paganini đẩy đi bằng những lời thô bạo: “Anh chỉ chạy theo tiền bạc của tôi, hoặc chỉ muốn được chia sẻ ánh vinh quang của tôi”. Quả thực, Paganini là một người đáng thương hại, ông rất đau khổ, và không hề có sự an ủi nào. Bởi vì ông chẳng tin ai.

Khi thời khắc cái chết của ông đã điểm, và Ngài luật sư xám đến bên giường, thì Paganini bình thản nói với ông ta:

– Thưa chủ nhân, tôi đã sẵn sàng. Nhưng tôi phải nói với ngài, rằng trong cuộc đời tôi không có niềm vui.

Ngài luật sư xám mệt mỏi phản đối:

– Chà, tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi chẳng được lợi lộc gì từ ngài cả. Cả hai chúng ta đã ký một hợp đồng chẳng có lợi cho ai. Ngài nhìn danh sách các hợp đồng đây này. Trong đó còn chẳng hề có tên ngài. Cái tên ấy bị xóa, đã bị ai đó gạch bỏ. Ai đó, người mà chúng ta không dám gọi tên.

– Thế thì tôi còn có thể làm gì bây giờ? – Paganini khoan dung hỏi.

– Hoàn toàn không có gì cả, – Ngài luật sư xám trả lời. Hoàn toàn không có gì, bạn tôi ạ. Tôi đã không còn nợ nần gì với ngài ít ra bởi tôi đã không bỏ qua buổi diễn nào của ngài rồi. Điều này khiến cho tôi mất điểm đối với lãnh đạo bên tôi. Nhưng còn ngài, thì cũng sạch nợ với người kia, người mà không thể gọi tên được. Bởi vì, nghệ thuật đích thực không phải xuất phát từ chúng tôi, mà từ phía Người, còn ai sẽ tổng kết những chuyện này? Thôi vĩnh biệt ngài. Bây giờ thì đã là mãi mãi. Tôi để lại cây vĩ cầm cho ngài. Ồ không! Đừng lo cho tôi. Đây chỉ là mấy chuyện khó chịu lặt vặt công vụ thôi mà. Vĩnh biệt…

Sáng hôm sau người ta thấy nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại Paganini đã qua đời; trán ông và những nếp nhăn vẫn kiêu hãnh và nghiêm nghị như khi còn sống. Trên môi ông là một nụ cười hạnh phúc mãn nguyện. Cây đàn vĩ cầm của quỷ thì biến mất mãi mãi.

1929

Advertisements

Thợ làm bánh mì ở Moscow xưa – Vladimir Gilyarovsky

Nhân các bạn nói đến bánh mì đen, Nina xin dẫn ra một phần trong cuốn sách “Moscow và người dân Moscow” của Vladimir Gilyarovsky, nhà báo nổi tiếng thời kỳ cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, viết về một bác thợ làm bánh mì danh tiếng ở Moscow.

Nguồn: http://www.lib.ru/RUSSLIT/GILQROWSKIJ/gilqrowskij.txt

Владимир Гиляровский. Москва и москвичи

БУЛОЧНИКИ И ПАРИКМАХЕРЫ

Thợ làm bánh mì ở Moscow xưa – Vladimir Gilyarovsky

Фото и выпечка Максима Сырникова

..Trên phố Tverskaya, đối diện với ngõ Leontievsky là ngôi nhà cao cao của người thợ làm bánh mì trước đây Philippov. Cuối thế kỷ 19, ông đã xây lại từ ngôi nhà hai tầng dài, vốn thuộc cha ông, người thợ nổi tiếng khắp Moscow với những chiếc bánh mì của mình

Philippov nổi tiếng đến nỗi Shumakher, nhà thơ có tiếng của Moscow đã nhắc đến cái chết của ông bằng bốn câu thơ mà cả Moscow đều biết đến

Hôm qua lại qua đời thêm người nữa
Vốn Moscow biết mặt, biết tên
Công tước Đại Gián Ivan Philippov
Đoàn gián chịu tang đầy tiếng khóc rên

Cửa hàng bánh mì của Philippov luôn luôn đầy người mua. Ở góc xa, quanh những chiếc hòm sắt nóng luôn luôn là cả một đám đông ăn những chiếc bánh rán nổi tiếng của Philippov nhân thịt, trứng, gạo, nấm, phó mát tươi, nho khô và mứt. Công chúng — từ những thanh niên đang đi học đến những công chức già, từ các mệnh phụ sang trọng đến các nữ công nhân ăn mặc nghèo nàn. Rán bằng dầu tốt, với nhân thịt mới, chiếc bánh rán giá 5 cô pếch to đến nỗi đôi khi có thể cho người ta ăn sáng no nê. Chiếc bánh này được bán từ thời Ivan Philippov, người sáng lập hiệu bánh mì. Ông Ivan Philippov nổi tiếng ra cả ngoài ranh giới Moscow bằng những chiếc bánh mì đủ loại của mình, mà cái chính là nhờ bánh mì đen chất lượng tuyệt hảo.

Các giá để hàng phía bên trái hiệu bánh vốn có lối đi riêng, thì luôn luôn được một đám đông bao quanh, họ mua bánh mì đen và trắng.

— Bánh mì đen là thực phẩm quan trọng nhất cho người lao động – Ivan Philippov nói

— Tại sao chỉ có ở chỗ ông thì bánh mì đen mới ngon? – người ta hỏi ông.

— Vì bánh mì thích được quan tâm. Tất nhiên là việc nướng thì quan trọng rồi, nhưng bí quyết nằm ở bột. Nhà tôi là không có bột mua, tất cả là của nhà, hắc mạch tuyển tôi mua tại chỗ, tại các cối xay cũng có người của tôi, để đảm bảo không có cọng cỏ, hạt bụi nào lẫn vào … Nhưng dù sao thì hắc mạch cũng khác nhau, cần phải chọn. Nhà tôi mua hắc mạch chủ yếu là ở Tambov, gần Kozlov, từ cối xay Rominskaya là có bột tốt nhất. Và rất đơn giản! – ông luôn luôn kết thúc lời mình bằng câu nói mình yêu thích.

Mỗi ngày người ta chở bánh mì đen, bánh mì trắng tới Peterburg tới cung điện Sa hoàng. Người ta đã thử nướng bánh tại chỗ, nhưng không thành công, và ông già Philippov chứng minh rằng ở Peterburg không thể nướng được những chiếc bánh mì như thế.

— Tại sao vậy?

— Và rất đơn giản! Nước sông Neva không thích hợp!

Ngoài ra, — thời đó còn chưa có đường sắt, — mùa đông những đoàn xe thồ với bánh mì các loại, bánh mì khô của ông, nướng trên rơm đi khắp các nẻo đường, thậm chí cả Sibir. Người ta lấy chúng ra thẳng từ lò còn nóng bỏng, làm đông lạnh chúng bằng một cách nào đó đặc biệt, và chở đi xa hàng ngàn dặm, ngay trước bữa ăn thì hâm nóng – cũng bằng một cách đặc biệt, trong khăn ẩm,– và những chiếc bánh mì nóng hổi, thơm phức được đưa tới bàn ăn dù ở Barnaul hay Irkutsk.

Và bỗng một hôm xuất hiện sản phẩm mới mà khách hàng tranh nhau mua – đó là bánh mì saika (сайка) với nho khô…

— Ông làm cách nào mà nghĩ ra được nó thế?

— Và rất đơn giản! – ông già trả lời.

Quả thật là cũng rất đơn giản. Thời đó vị “độc tài” điều hành Moscow là viên tướng – thống đốc Zakrevsky, trước mặt ông hết thảy đều run sợ. Mỗi sáng những chiếc bánh mì saika nóng của Philippov được dọn lên bàn uống trà của Zakrevsky.

— Cái quái quỷ gì đây! Gọi ngay gã làm bánh mì Philippov lại đây! – một lần ngài thống đốc quát lên ở bàn trà sáng.

Người hầu không hiểu chuyện gì xảy ra, và lôi Philippov đang hoảng sợ tới gặp thống đốc.

— Cái gì đây? Gián?! – và chìa ra cái bánh mì saika với con gián đã bị nướng chín. – Cái gì đây?! Hả?

— Và thậm chí còn rất đơn giản, thưa ngài! – ông già Philippov xoay xoay chiếc bánh saika trước mặt mình.

— Cái gì? Cái gì? Đơn giản á?!

— Đó là nho khô, thưa ngài!

Và Philippov ăn ngay miếng bánh có con gián.

— Nói dối, đồ đểu! Làm gì có bánh mì saika với nho khô? Cút!

Philippov chạy vào xưởng làm bánh, vớ lấy sàng nho khô và đổ vào chỗ bột để làm bánh saika trong sự hoảng sợ của những người thợ nướng bánh

Một giờ sau Philippov đã mời Zakrevsky ăn bánh saika với nho khô, còn ngày hôm sau thì mặt hàng mới này cứ gọi là đắt như tôm tươi.

— Và rất đơn giản! Mọi sự đều tự đến, chỉ cần biết nắm lấy thôi, — Philippov nói mỗi khi nhắc tới câu chuyện về bánh saika với nho khô.

——————————-
Phần sau của chương sách cũng rất hấp dẫn này là về kẹo, về thợ cắt tóc, nhưng nó dài quá nên Nina xin phép dừng ở đây.
Và để dễ hiểu thì Nina xin phép giới thiệu loại bánh mì saika
Từ điển Dal viết rằng

САЙКА, саечка ж. булка, пшеничный хлебец самого крутого замесу; саечное тесто, крутое, сильно битое, а калачное жидкое, посему хороших саек теперь почти нет, их печь невыгодно

Saika là bánh mì làm từ bột lúa mạch, nhồi bột rất nặng (có lẽ là thế); bột nhồi để nướng saika thì nặng, phải đập mạnh tay, còn bột nhồi để nướng bánh mì thì … lỏng hơn…
Mượn tạm ảnh của một bạn thích nướng bánh để minh họa – Максим Сырников

TUYẾT ĐẦU MÙA – Aleksandr Karasyov

Lâu nay mình không viết gì vì … máy tính hỏng, vòi tiền :(, và thật sự cũng … chẳng có gì hay ho

Hôm nay xin phép …giới thiệu một truyện ngắn Nga hiện đại, truyện "Tuyết đầu mùa". Truyện này của Aleksandr Karasyov, đã được đăng ở Tạp chí “Tháng Mười”, số 7. và được một nhà phê bình đánh giá "Đây là một mẫu mực của tài năng văn học". Nina thấy đúng là truyện viết rất khá thật, đọc thấy … giản dị và yêu cuộc sống quá. Xin giới thiệu cùng bạn đọc nhé

TUYẾT ĐẦU MÙA
Aleksandr Karasyov

Truyện ngắn

Trong cái ba lô bằng vải thô lần lượt đặt vào một mẩu vải trải giường gói trong giấy, một cái ca sắt, dao cạo râu, lưỡi dao cạo …Bà thì đặc biệt băn khoăn, đến nỗi Sergei nói với bà: “Ôi bà, ơi, bà đem cả ủng của ông cho cháu nữa chắc!…”. Sergei đã mệt vì phải từ chối người bà hiền lành, vì thực tế là bà đã định đi lấy đôi ủng. Cuối cùng thì họ đồng ý – chỉ mang thêm đôi tất ấm đan len.

Và cuối cùng thì họ đi ngủ. Tất cả đều không ngủ được, trừ có Zhenka bé bỏng. Sergei bước ra ngoài đường hút thuốc. Anh kiễng chân đi trong nhà, để không đánh thức mọi người. Nhưng mẹ vẫn gọi anh:

– Seriozha, con đi đâu thế?

– Con ra ngoài hút thuốc, – Sergei trả lời: đó là lần đầu tiên anh trả lời mẹ như vậy.

Ban đêm tuyết đã xuống, và nhanh chóng tan trong các vũng nước và trên đường nhựa ẩm. Nhưng khi Sergei bước ra ngoài phố lần thứ hai, mọi sự đã thay đổi.

Trong ánh sáng của ngọn đèn đường, các bông tuyết quấn lấy nhau và sáng lấp lánh. Trời trở lạnh. Tuyết nằm xuống đất, trên mái nhà và xe, trên các ghế dài. Sergei đi tản bộ cạnh cửa vào, dẫm thành các hình trong tuyết, ném những nắm tuyết.

Anh suy nghĩ và thở rất dễ dàng trong đêm ấy. Nhớ lại tuổi thơ trong những khu nhà này: tấn công chiếm pháo đài tuyết, chơi hoc-key không có giày trượt băng trong sân. Rồi khi anh tám tuổi: anh để tay bị lạnh cóng ngoài trời, và bố dội nước lạnh lên tay, rất đau. “Hãy chịu đựng, chàng cô dắc”, bố nói.

Sergei thử hình dung những người trong các bộ phận mà anh sắp gặp. Thử hình dung các hoàn cảnh trong quân đội. Tuy nhiên, kết quả thu được không tốt lắm. Anh hình dung thấy xưởng lắp ráp, nơi anh đã làm việc sau khi tốt nghiệp. Những anh chàng mặc quân phục quy ước đi lại trong xưởng. Thậm chí cả Tolik Snigiriov cũng đi – người hàn các cấu trúc kim loại.

Và Sergei còn đoán xem, liệu anh sẽ vào binh chủng nào, – anh đã đoán về điều này suốt từ ngày còn bé. Chẳng hiểu vì sao mà anh không quan tâm đến nơi sẽ phục vụ, mà chỉ quan tâm đến loại binh chủng.

Chiếc đồng hồ báo thức réo lên vào buổi sáng. Đó là một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ với âm thanh rất khó chịu và rất to. Chỉ có bà là đã dậy trước, và đang nặn vareniki trong bếp. Sergei rất thích món vareniki của bà, và bà cố gắng làm món đặc biệt cho anh.

Họ ngồi một lúc trước khi lên đường. Mẹ đứng dậy đầu tiên. Sergei đứng trước gương mặc chiếc áo len ấm. “Trời đất, nó đã lớn!…” – mẹ nghĩ. Nhưng lại nói với vẻ khó chịu: “Thôi nào, Sergei, đi thôi. Nhà Sogoyan đã đi rồi đấy”. Bà mặc tạp dề nhà bếp khóc bên cửa. Sergei hôn bà và nói: “Bà ơi, đừng khóc, có phải cháu ra trận đâu”.

Bù lại, Zhenka đã chạy quanh nhà, và lấy tuyết ném đám bồ câu và gara. Những con chim bồ câu xù lông bay lên ồn ào, nhưng ngay lập tức quay trở lại chỗ cũ cạnh đống rác: ai đó đã rắc những mảnh vụn bánh mì ở đó cho chúng. Những gara kim loại kêu ầm ầm vui vẻ khi những nắm tuyết của Zhenka rơi vào. Zhenka vui sướng với tuyết vừa rơi, và vì anh trai vào bộ đội, và mọi chuyện đó thật thú vị làm sao!

Trên đường tới nông trang “Mặt trời”, tới nơi tập trung của quận, nhà Sogoyan nhập bọn cùng họ: Karen – bạn của Sergei, và mẹ cậu ta Agnessa Lvovna.

Karen trông tươi cứ như là vừa mới được đánh bóng. Còn mẹ anh, bà Agnessa Lvovna buồn rầu thì đến hôn Sergei.

Tuyết kêu xào xạo dưới chân. Những người phụ nữ cũng trở nên vui vẻ hơn, và họ bắt đầu trò chuyện. Sergei trong lòng cũng rất vui vẻ, gần như là Zhenka. Còn Karen thì bước đi bên cạnh anh và kể về điều gì đó rất sôi nổi. Karen cao và gầy: về chiều cao thì anh giống bố, chứ không giống mẹ.

Họ đi giữa những tòa nhà ở năm tầng. Những tòa nhà giống nhau, đơn điệu và ảm đạm. Nhưng vào ngày hôm ấy hình như là các tòa nhà này cũng biến đổi: “Chúc may mắn nhé, Sergei! Chúng tớ nhớ cậu” – những tòa nhà nói. Còn khi họ đi ngang tòa nhà của nhà Sogoyan, ông của Karen nhìn họ từ một cửa sổ và vẫy cánh tay già.

Họ là những người đầu tiên đến câu lạc bộ – nơi tập hợp. Karen kéo cửa – cửa khóa. Trên tuyết vẫn còn chưa có dấu chân. Bỗng dưng xuất hiện trung tá Amilakhvari, cứ y như là dưới đất nhô lên. Agnessa Lvovna kêu lên “Ối!”.

Zhenka nắm lấy áo palto của mẹ: cậu bé tưởng rằng ông trung tá râu ria đang chơi trốn tìm, và bây giờ quyết định hiện ra.

– Các vị đến rồi à? Giỏi lắm! Chúng ta sẽ đợi những người còn lại”, – Amilakhvari nói. Ông kéo tay áo khoác lính, nhìn đồng hồ rồi quay lại nhìn Sergei: – Thế nào, chim ưng, sẵn sàng phục vụ chứ?

Sergei lúng túng vì bất ngờ. Agnessa Lvovna giúp anh, bà bủa vây Amilakhvari bằng một loạt câu hỏi. Trông cô ấy thật buồn cười vào lúc này, túm lấy trung tá, cứ y như một chú chim sẻ dũng cảm nhảy nhót. Mẹ không chịu được và cũng hỏi về quần áo ấm.

Nhưng Amilakhvari vui vẻ cản lại hết mọi câu hỏi: "Các bà mẹ! Quân đội từ Afganistan đưa về từ mười tháng trước, phải không?… Quần áo ấm sẽ phát cho tất cả, phải không?… Trò ma cũ bắt nạt ma mới ở trong quân đội không còn nữa, nghe này! Truyền hình hiện vẫn còn chưa biết, phải không?… " – Ông nói hoàn toàn không có accent, còn bây giờ lại đùa một chút.

Những người phụ nữ mỉm cười và gần như bình tâm lại. Mặc dù họ chẳng tin điều gì hết, ngoài điều là quân đội từ Afganistan đã được đưa về.

Sergei và Karen lùi xa trung tá bớt. Sergei trở nên không thoải mái vì những câu hỏi phụ nữ. Những người lính nghĩa vụ khác bắt đầu đến cùng với gia đình và bạn bè. Mười phút sau đã trở nên ồn ào. Phần lớn các cậu lính nghĩa vụ đều mặc áo len ấm. Một cậu còn mặc cái áo nào đó của ông – có vết mỡ và lỗ thủng. Sergei nghĩ về anh ta: “Như là bù nhìn”.

Tuyết lại rơi. Những bông tuyết trắng xốp đậu trên mũ và trên vai mọi người. Tất cả thoải mái hơn và giậm giậm chân trên tuyết. Tất cả trở nên vui hơn một chút. Anh chàng mặc chiếc áo len cũ chiếm được cảm tình của Sergei – anh ta nói chuyện rất buồn cười. Một anh lính nghĩa vụ khác mặc quân phục với quân hàm xanh: anh ta được nuôi dạy trong bộ phận không quân địa phương, nhưng cũng đi nghĩa vụ giống như mọi người. Có mấy cô bạn gái tựa vào mấy chàng trai. Sergei hơi khó chịu trong lòng khi nhìn thấy điều đó. Anh nghĩ rằng, Lenka lẽ ra là nên đến, dù chỉ ra vẻ trước mắt mọi người.

Amilakhvari dường như không thể bắt được: lúc thì xuất hiện, lúc thì lại biến mất. Không ai có thể biết được ông ở đâu. Cuối cùng thì Amilakhvari cầm một xấp thẻ quân nhân còn mới toanh màu đỏ, và bắt đầu điểm danh.

Họ ôm hôn nhau rất lâu. Trong mắt các bà mẹ là những giọt lệ lấp lánh.

– Cậu ở đó cố gắng nhé, – Karen nói.

Agnessa Lvovna cũng muốn chúc điều gì đó, nhưng chỉ nói được mấy chữ: “Seriozhenka”. Sergei mỉm cười với bà và bước vào xe. Anh ngồi lên chỗ ngồi lạnh giá, và xòa tay lau cửa sổ thủy tinh phủ đầy inei – những tinh thể băng nhỏ.

Những bông tuyết xốp nhẹ nhàng chạm vào kính thủy tinh, để lại những giọt nước nhỏ. Xe chuyển bánh. Karen và Agnessa vẫy tay theo. Mẹ đứng mắt đầy lệ, và cũng vẫy tay. Còn Zhenka hiếu động thì chạy theo xe, để ném tuyết theo. Nhưng nắm tuyết không bay tới đích – xe ô tô nhanh chóng tăng tốc và phóng như bay ra khỏi nông trang, kéo theo những vệt khói mù mịt…/.

Tiểu sử của nhà sư phạm, nhà văn Anton Makarenko

Tiểu sử của nhà sư phạm, nhà văn Anton Makarenko

Anton Makarenko sinh ngày 13/3/1888 tại thành phố Belopolie huyện Sumsky tỉnh Kharkov trong một gia đình công nhân. Năm 1904 Makarenko tốt nghiệp trường trung học 4 lớp ở Kremenchug, sau đó thì tốt nghiệp các khóa đào tạo giáo viên. Năm 1905-1914 ông giảng dạy trong các trường học ngành đường sắt. Trong những năm 1916-1917 phục vụ trong quân đội, phục viên do cận thị. Năm 1917 tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Polrava với huy chương vàng. Từ năm 1918 làm thanh tra giáo dục tiểu học ở thành phố Kriukov, phụ trách trường tiểu học thành phố ở Poltava.

Từ tháng 9/1920 Makarenko là giám đốc trại cải tạo Poltava (sau này mang tên M.Gorky), nơi ông quyết định thực hiện phương pháp “mối quan hệ Gorky đối với con người”. Năm 1927 ông kết hợp trại Poltava với một trại xải tạo khác ở Kharkov, “nổi tiếng” ở Ukraina như là nơi tập trung những kẻ trộm và trẻ em lang thang hư nhất. Tiếp đó những thành công trước đó chưa có tiền lệ của nhà sư phạm – cải cách được xây dựng trên cơ sở sử dụng khả năng giáo dục khổng lồ của tập thể, sự phối hợp giáo dục ở trường học với lao động sản xuất, sự kết hợp giữa lòng tin tưởng và sự đòi hỏi. Năm 1928 Gorky sau khi làm quen với trại Poltava và Kharkov đã viết trong thư gửi Makarenko: “Cuộc thí nghiệm sư phạm vô cùng ý nghĩa của đồng chí là hết sức thành công và có giá trị thế giới”.

Năm 1927 những chương đầu tiên của cuốn “Trường ca sư phạm” đã được viết. Khi đó Makarenko đã thiết lập xong dự án quản lý các trại cải tạo thiếu nhi của tỉnh Kharkov để triển khai rộng hơn kinh nghiệm của mình. Tuy nhiên do những chỉ trích từ giới sư phạm (cơ sở của những chỉ trích này không chỉ là những khiếm khuyết bị Makarenko bỏ sót, mà còn chủ nghĩa bảo thủ, và đơn giản là sự ghen tỵ của những đồng nghiệp không thành công bằng) mà sau hè năm 1928, sau khi Dân ủy Giáo dục (Наркомпрос) Ukraina tuyên bố rằng hệ thống giáo dục của Makarenko là “không xô viết”, thì ông viết đơn xin thôi việc.

Năm 1932 Makarenko công bố tác phẩm văn học – sư phạm lớn đầu tiên “Tuần hành năm 30” – các bút ký kể về cuộc sống của trại giáo dục kiểu mới.

Từ năm 1928 Makarenko tiến hành các công việc nhằm xây dựng một tập thể mới – công xã mang tên F.E.Dzerzhinsky ở gần Kharkov. Công xã này không chỉ có khả năng giáo dục các thiếu niên “khó khăn” trong quá trình lao động tập thể, mà còn là một cơ sở sản xuất có lãi, đem lại cho đất nước khi đó lợi nhuận khá lớn, thậm chí còn bắt đầu sản xuất các thiết bị phức tạp – máy ảnh FED và mô hình máy khoan điện đầu tiên của Nga, điều này được thể hiện trong tên gọi cuốn sách tiếp theo của Makarenko – “FD-1”.

Nhờ sự giúp đỡ của M.Gorky trong những năm 1933-1935 cuốn “Trường ca sư phạm” đã được xuất bản, đem lại cho tác giả của nó sự nổi tiếng thế giới và mở ra một trang mới trong lịch sử sư phạm. Makarenko cũng viết các kịch bản “Cá tính thực sự”, “Chuyến công tác”, tiểu thuyết “Những con đường của thế hệ.


Bìa cuốn sách “Trường ca sư phạm” của A.Makarenko

Năm 1935 Anton Makarenko chuyển về Kiev làm Phó giám đốc phụ trách các trại lao động của NKVD Ukraina, sau đó thì chuyển tới Matxcơva, nơi ông viết xong “Cuốn sách dành cho các phụ huynh” (1937). Truyện vừa “Ngọn cờ trên đỉnh tháp” (1938) tiếp tục chủ đề các tác phẩm văn học – sư phạm của ông. Hoạt động văn học và xã hội của Anton Makarenko ở Matxcơva bị chấm dứt bởi cái chết đột ngột của ông trong toa tàu ngày 1/4/1939.

Matxcơva khánh thành đài kỷ niệm Bunin

Hoàng Lan (NuocNga.net) dịch
Theo Vesti

Ở trung tâm Matxcơva, phố Povarskaya, nơi Ivan Bunin đã sống trước khi di cư sang Paris, ngày thứ hai 22/10 vừa qua đã khánh thành đài kỷ niệm nhà văn lớn của nước Nga – người đã được nhận giải thưởng Nobel về văn học cho tác phẩm “Cuộc đời Arsenev”.

Bức tượng được dựng theo mẫu của nhà điêu khắc Aleksandr Burganov và kiến trúc sư Viktor Pasenko – bức tượng đồng này được bảo tàng nghệ thuật cổ điển và đương đại “Trung tâm Burganov” tặng cho thành phố.

Bức tượng thể hiện Bunin trong dáng điệu đang trầm tư suy ngẫm về số phận của nước Nga. Trong dáng vẻ tầm thước, tư thế khoanh tay bình thản, mái đầu ngẩng cao kiêu hãnh với ánh mắt nhìn sắc sảo, các tác giả đã nhấn mạnh vẻ quý phái và sự vĩ đại. Bức tượng bán thân nhà văn được đặt trên một bệ không cao bằng đá granit, hình dạng bệ nghiêm trang, không một chi tiết thừa. Chính nhờ đó mà tượng đài có vẻ thống nhất và rất hài hòa với cảnh quan chung quanh. Nhà điêu khắc đã rất thành công trong việc thể hiện linh hồn của sự tự do không thể nào bị bẻ gẫy, sự cao quý và vĩ đại của nhà văn Nga.

Chủ đề Bunin luôn gắn bó chặt chẽ với sáng tác của Aleksandr Burganov. Nhà điêu khắc này cũng là tác giả của đài kỷ niệm Bunin ở Voronezh – quê hương nhà văn, và tượng đồng Bunin cho Gallery “Con người – huyền thoại”, bức tượng này được để tại ngõ Bolshoi Afanasevsky – hãng ITAR-TASS cho biết.

Ngày khánh thành đài kỷ niệm được chọn không hoàn toàn tình cờ – nếu nhà văn còn sống thì ngày 22/10/2007 ông sẽ tròn 137 tuổi. Bà Liudmila Shevtsova. Phó thị trưởng thứ nhất của thủ đô Nga phát biểu tại lễ khánh thành đài kỷ niệm – “Bunin là nhà văn Nga đầu tiên được nhận giải thưởng Nobel vì tính nghệ sĩ nghiêm nghị mà ông đã sử dụng để ca ngợi, tôn vinh tính cách Nga”.

TUẦN ĐÊM (Ночной дозор) – tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của nhà văn Nga Sergei Lukianenko

Bìa cuốn sách “Tuần Đêm”


Năm 2004, bộ phim “Tuần Đêm” đã gây một cơn sốt thật sự ở Nga, khi chỉ trong ba tuần công chiếu nó đã đem về hơn mười triệu đô la. Và tác giả kịch bản, cũng là tác giả cuốn tiểu thuyết cùng tên – Sergei Lukianenko trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất ở Nga.

Sergei Lukianenko sinh năm 1969 ở Dzhabul và tốt nghiệp Đại học Y Alma-Ata với nghề nghiệp bác sĩ tâm lý. Những thử nghiệm đầu tiên của mình trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng được Lukianenko công bố từ cuối những năm 1980. Tuy nhiên khi đó nhiều người chỉ coi những truyện vừa đầu tiên của ông như trò tiêu khiển của một bác sĩ tâm lý.

Cuốn sách đầu tiên của Lukianenko có tên “Giấc mơ nguyên tử” được xuất bản năm 1992, và sau đó một số tiểu thuyết viết chung với các tác giả khác cũng ra mắt. Sau những thành công này năm 1997 Lukianenko quyết định rời khỏi Alma-Ata và bắt đầu chinh phục Matxcơva.

Tiểu thuyết “Tuần Đêm” được Lukianenko viết từ năm 1992, và theo lời nhà văn thì mỗi năm ông không viết hơn hai cuốn tiểu thuyết. Hiện nay tirage của nhà văn đã vượt quá con số hai mươi triệu bản.

Cuốn tiểu thuyết “Tuần Đêm” đưa chúng ta vào một thế giới khác, bên cạnh thế giới thực của con người. Ban đêm trên đường phố – thật nguy hiểm. Nhưng mối nguy hiểm ở đây không phải là tội phạm. Đường phố ban đêm có mối nguy khác – đó là những người tự gọi mình là Người Khác. Những người ra đường đi săn sau khi mặt trời lặn. Những người có sức mạnh khủng khiếp, sức mạnh ma thuật, mà những vũ khí thường không làm gì được họ. Nhưng hàng thế kỷ rồi, theo gót “những thợ săn đêm” là những người đi săn khác – Tuần Đêm. Tuần Đêm chiến đấu chống lại những sản phẩm của Bóng Tối, và chiến thắng chúng. Nhưng trong khi đó Tuần Đêm lại tuân thủ nghiêm ngặt Thỏa Thuận được ký kết lâu đời giữa các thế lực của Ánh Sáng và Bóng Tối …

Cuốn sách kể về cuộc đấu tranh giữa các thế lực của Ánh Sáng và Bóng Tối. Nhưng dù hai bên có chiến đấu thế nào đi nữa, thì sức mạnh hai bên vẫn luôn là cân bằng. Nên cuối cùng thì cả hai bên đã ký kết Thỏa Thuận về việc thành lập Tuần Đêm – đó là các thế lực của Ánh Sáng theo dõi các thế lực của Bóng Tối, và Tuần Ngày – bao gồm những chiến binh của Bóng Tối và kiểm soát các hoạt động của các lực lượng Ánh Sáng. Cả hai tồn tại song song, và đã quen dần với việc cùng tồn tại chung, mặc dù tất nhiên đôi khi cũng có những vi phạm nhỏ lặt vặt. Nhưng có một sự kiện khiến cho cả hai bên đều không thể thờ ơ – đó là lời sấm về việc khi nào đó sẽ xuất hiện một nhân vật, một chiến binh vĩ đại tương lai và sẽ thay đổi cán cân lực lượng… Và mọi chuyện sẽ tùy thuộc vào việc Người Khác kia sẽ sự lựa chọn bên nào: Ánh Sáng hay Bóng Tối.

Anton Gorodetsky – nhân vật chính của tiểu thuyết “Tuần Đêm” là một trong những cộng tác viên của Tuần Đêm, tất nhiên. Một lần Gorodetsky ngẫu nhiên trở thành người chứng kiến một chiến dịch của Tuần Đêm, và hóa ra Anton là Người Khác. Người có thể nhìn thấy thế giới vô hình, biết ảnh hưởng tới thế giới đó. Và thế là Anton phải chuyển nghề từ một lập trình viên thành một nhân viên của Tuần Đêm. Cuốn sách bao gồm ba phần, là ba cuộc phiêu lưu khác nhau của Gorodetsky trong công việc của mình.

Trong cuộc phiêu lưu đầu tiên “Số phận của mình” thì Gorodetsky gặp phải hai vấn đề lớn: cứu cậu bé Egor đang bị những ma cà rồng (vampire) của Bóng Tối lôi vào bẫy, và giải quyết vấn đề Chiếc Phễu… Chiếc Phễu – đó là một dạng cô đặc có dạng phễu của phản vật chất, trong thế giới thực thì Chiếc Phễu sẽ tạo ra những tai họa nghiêm trọng – đại loại như nổ bom nguyên tử chẳng hạn. Phải là một phù thủy cao tay ấn lắm mới gây ra một Chiếc Phễu như thế – đến nỗi ngay cả thủ trưởng của Tuần Đêm cũng không đủ sức tiêu diệt Chiếc Phễu này. Không hiểu sao Chiếc Phễu như thế lại xuất hiện trên đầu của Svetlana – một nữ bác sĩ dường như hoàn toàn bình thường… Còn người đầu tiên phát hiện ra Chiếc Phễu thì tất nhiên là nhân vật chính của cuốn sách.

Có hai cách giải quyết vấn đề Chiếc Phễu. Hoặc là giết Svetlana – khi mục tiêu đã bị tiêu hủy thì Chiếc Phễu cũng tự tiêu hủy. Tất nhiên Tuần Đêm không thể chọn cách này. Cách thứ hai – Anton phải tìm cách làm suy yếu Chiếc Phễu, phải tìm hiểu xem phù thủy nào của Bóng Tối đã tạo ra Chiếc Phễu. Tại sao lại là Anton ư? Tất nhiên không chỉ vì Anton là nhân vật chính. Tác giả Sergei Lukianenko có lời giải thích khá lô gíc thông qua lời thủ trưởng của Anton: Việc Anton phát hiện ra chiếc phễu không phải là ngẫu nhiên, mà đó là quyết định của số phận …

Và thế là Anton bắt đầu đi tìm Egor ở nhà cậu bé, rồi lại tới Svetlana để tìm cách làm Chiếc Phễu suy yếu, và mọi chuyện cuối cùng được giải quyết trên mái nhà của Egor, khi cậu bé bị ma cà rồng bắt làm con tin, và đích thân sếp của Bóng Tối có mặt …

Câu chuyện thứ hai “Quân ta ở giữa quân mình” (Свой среди своих) xảy ra sau khi Svetlana đã được nhận vào đội ngũ Tuần Đêm, và tỏ ra có tiềm năng đặc biệt. Cùng lúc đó ở Matxcơva xảy ra vụ giết một phụ nữ, và một phù thủy người của Bóng Tối – tức là vi phạm Thỏa Thuận đã ký kết giữa hai bên. Phía Bóng Tối gửi công hàm phản đối, và mọi nghi ngờ đều tập trung vào Anton Gorodetsky – anh là người duy nhất không có chứng cớ ngoại phạm. Và thế là các chiến binh Bóng Tối tìm cách truy đuổi và bắt giữ Anton… Và Gorodetsky chỉ có một lựa chọn – anh phải tìm cho ra Kẻ Hoang Dã – một Người Khác của Ánh Sáng hoạt động đơn độc, thủ phạm của những vụ giết người này.

Tuy nhiên thực ra Anton vốn chỉ là một nhân viên không nổi bật gì lắm của Tuần Đêm. Anh giống như con tượng trên bàn cờ không phải con tốt, nhưng cũng không phải con xe. Mục đích của mọi hành động phía Bóng Tối không phải là Anton, mà nhằm vào nhân vật khác, người sẽ trở thành một chiến binh vĩ đại trong tương lai… Việc bắt giữ Anton sẽ làm người kia không tập trung
được quá trình phát triển …Phải
mất khá nhiều thời gian Anton mới nhận thức được điều này. Cũng trong khi đó Kẻ Hoang Dã đánh hơi được dấu vết của cậu bé Egor, một Người Khác có xu hướng ngả về phía Bóng Tối, và chuẩn bị giết cậu bé…

Phần thứ ba của tiểu thuyết có tên “Chỉ dành cho người mình” (Исключительно для своих) và bắt đầu bằng một vụ giết người của Bóng Tối. Sau kỳ nghỉ phép, Anton Gorodetsky trở về nhà mình bất ngờ thấy thủ trưởng phía Bóng Tối trong nhà mình. Lần đầu tiên tiểu thuyết mô tả những dằn vặt, cân nhắc, dao động của Anton, thậm chí cả kế hoạch chống lại thủ trưởng của mình trước hành động quyết định của phía Ánh Sáng – thay đổi Cuốn Sách Số Phận…

Ấn tượng chung của người viết những dòng này – “Tuần Đêm” là một cuốn tiểu thuyết cuốn hút. Không phải ngẫu nhiên mà bộ phim cùng tên theo mô-tip của tiểu thuyết lại thành công lớn như thế trên màn ảnh Nga. Một thế giới khác lạ, với những phép thuật, những quy tắc khác, với những Người Khác. Tuy nhiên những Người Khác cũng suy nghĩ giống con người, cũng cảm nhận, yêu ghét như vậy. Nội dung tiểu thuyết hấp dẫn và lôi cuốn người đọc với những tình tiết thắt nút và cởi nút bất ngờ, những mô tả tâm lý tinh tế và chính xác. Ngôn ngữ chung của tiểu thuyết đơn giản, súc tích, tuy nhiên không tránh khỏi những đoạn đối thoại quá dài.

LƯU HẢI HÀ
(NGUYÊN HÙNG biên tập và hiệu đính)