Mưa – thơ Marshak

Chả hiểu sao mà trong đêm mưa mình lại tình cờ chọn một bài thơ của Marshak. Thực ra thì dịch nháp cũng mấy ngày rồi, dù vẫn là trong một đêm mưa…


Ảnh minh họa lấy từ Internet, mọi sự trùng hợp đều là ngẫu nhiên…

* * *

Самуил Маршак

По небу голубому
Проехал грохот грома,
И снова всё молчит.
А миг спустя мы слышим,
Как весело и быстро
По всем зеленым листьям,
По всем железным крышам,
По цветникам, скамейкам,
По ведрам и по лейкам
Пролетный дождь стучит.

* * *

Samuil Marshak

Trên bầu trời xanh thẳm
Bỗng có tiếng sấm rền,
Rồi tất cả lặng yên.
Một giây sau có tiếng
Nhanh nhảu và vui vẻ
Trên những chiếc lá xanh,
Trên mái tôn lượn sóng,
Trên ghế đá chậu hoa
Trên chậu xô, thùng tưới
Nhịp mưa rào gõ vội.

Tháng tám – Marshak

Vẫn còn chưa đến tháng tám, nhưng đã là mùa hè nóng bỏng… nên không có gì lạ khi chị Quỳnh Hương rủ mình nghịch bài thơ này…

Август

Самуил Маршак

Собираем в августе
Урожай плодов.
Много людям радости
После всех трудов.
Солнце над просторными
Нивами стоит.
И подсолнух зернами
Черными
Набит.

Tháng tám

Samuel Marshak

Tháng tám mùa quả chín
Ta thu hoạch quả thôi.
Thật là nhiều niềm vui
Sau bao ngày cực nhọc.
Mặt trời cao lồng lộng
Trên cánh đồng bao la.
Hướng dương trong vườn nhà
Hạt đen
Đầy ắp.

Mình thích bài thơ này của Marshak – không đao to búa lớn, đơn giản thôi, nhưng nó ngọt ngào một cách nhẹ nhàng, vui vẻ và hạnh phúc…

Làm khách của nữ hoàng – Marshak

Ngẫu nhiên hôm nay nhớ bác Marshak – mình tìm được một bài thơ ngắn 🙂

В гостях у королевы

Самуил Маршак

– Где ты была сегодня, киска?
– У королевы у английской.
– Что ты видала при дворе?
– Видала мышку на ковре!

Làm khách của nữ hoàng

Samuil Marshak

– Mèo con hôm nay đi đâu?
– Đến chỗ nữ hoàng Anh quốc.
– Mèo thấy gì trong cung điện?
– Trên thảm có con chuột tướng!

Đúng là bác Marshak rất tài! Thơ cho trẻ con mà. Mèo có đi đâu thì cũng chỉ để ý đến chuột mà thôi!

Ơ nhưng mình viết thế này thì quá bằng khen mèo dài đuôi 🙂

Chim sẻ trên dây điện … – thơ Marshak

Uploaded with ImageShack.us

Mình rất nghi ngờ bài này là thơ không đề…

Самуил Маршак 

«Воробьи по проводам…»

Воробьи по проводам
Скачут и хохочут.
Верно, строчки телеграмм
Ножки им щекочут.

Samuil Marshak 

“Chim sẻ trên dây điện…”

Chim sẻ trên dây điện
Nhảy nhót và cười vui.
Chắc những dòng điện báo
Đang cù chân chúng rồi.

Vườn bách thú – Marshak

Thực ra mà nói, bài này là bài đầu tiên, mở đầu chuỗi thơ Vườn bách thú của Marshak. Nhưng theo thông lệ ngâm cứu, mình dịch nó sau cùng. Trong khi chờ … biên tập thì mình quăng tạm nó lên đây, để mừng … hoàn tất chuỗi thơ này!

Uploaded with ImageShack.us
Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, mọi sự trùng lắp đều là ngẫu nhiên

ЗООСАД

Рано, рано мы встаем,
Громко сторожа зовем:
– Сторож, сторож, поскорей
Выходи кормить зверей!

Вышел сторож из сторожки,
Подметает он дорожки,
Курит трубку у ворот,
Нам обедать не дает.

Долго, долго у решетки,
Мы стоим, разинув глотки.
Знаем, знаем без часов,
Что обед для нас готов.

За обедом, за обедом
Не болтаем мы с соседом,
Забываем обо всем
И жуем, жуем, жуем.
Это трудная работа –
Щеки лоснятся от пота.

После пищи нужен сон.
Прислонившись, дремлет слон.
Показав себя народу,
Бегемот уходит в воду.

Спит сова, вцепившись в пень,
Спит олень, и спит тюлень.
Темно-бурый медвежонок
Про себя ворчит спросонок,

Только пони и верблюд
Принимаются за труд.

На верблюде, на верблюде,
Как в пустыне, ездят люди,
Проезжают мимо рва,
За которым видят льва,
Проезжают мимо клетки,
Где орлы сидят на ветке.
Неуклюж, космат и худ,
Ходит по саду верблюд.

А по кругу, на площадке,
Черногривые лошадки
Мчатся рядом и гуськом,
Машут челкой и хвостом.

Но вот наступает прохлада.
Чужие уходят из сада.
Горят за оградой огни,
И мы остаемся одни.

VƯỜN BÁCH THÚ

Chúng mình dậy từ rất sớm,
Dõng dạc gọi bác nhân viên:
– Ơi bác nhân viên, bác hãy
Cho thú ăn đi, mau lên!

Bác nhân viên ra khỏi phòng,
Đầu tiên quét đường cái đã,
Phì phèo tẩu thuốc bên cổng,
Chẳng cho chúng mình ăn trưa.

Chúng mình đứng đợi rõ lâu
Há miệng to bên song sắt
Chẳng cần đồng hồ, mình biết
Bữa trưa đã sẵn sàng rồi.

Và khi chúng mình ăn trưa
Hoàn toàn không có buôn chuyện
Mọi chuyện chúng mình quên hết
Chỉ toàn nhai và nhai thôi.
Công việc này vất vả lắm –
Trên má bóng nhẫy mồ hôi.

Ăn xong thì cần phải ngủ.
Voi tựa mình ngủ lơ mơ.
Sau khi cho công chúng ngắm,
Hà mã nhảy tót xuống hồ.

Hươu ngủ, hải mã cũng ngủ,
Cú quắp chặt móng vào cành.
Con gấu con lông hung sẫm
Làu bàu trong mơ một mình

Chỉ ngựa lùn với lạc đà
Là lại đến giờ làm việc.

Cứ như ở trong sa mạc,
Người cưỡi trên lưng lạc đà,
Đi ngang qua một cái hố,
Sư tử trong đó ấy mà,
Đi ngang qua một lồng sắt,
Nơi đại bàng đậu trên cây.
Lạc đà trong vườn đi lại,
Vụng về, đầy lông và gầy.

Trên trảng cỏ, theo vòng tròn,
Những chú ngựa lùn bờm đen,
Một đàn chạy như tên bắn,
Chỉ thấy bờm, đuôi vẫy lên.

Nhưng rồi chiều xuống, trời lạnh
Du khách đã rời vườn xanh
Đèn trên tường rào bật sáng
Chúng mình còn lại một mình

Cảm nhận – bài thơ gốc rất ngộ, rất vui, còn mình dịch thì ẩu thả thôi rồi 🙂

Hippopotamus – tiếp tục Marshak

Bài này thì mình thừa nhận ngay là mình dịch dở 🙂

Uploaded with ImageShack.us
Hippopotamus – hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, mọi sự trùng hợp nếu có đều là ngẫu nhiên

ПРО ГИППОПОТАМА

Уговорились я и мама
Дождаться выходного дня
И посмотреть ги-ги-топама…
Нет, ги-попо-тото-попама…
Нет, ги-гото-попо-потама…
Пусть мама скажет за меня!

Вошли в открытые ворота
И побежали мы вдвоем
Взглянуть на ги… на бегемота!
Мы чаще так его зовем.

Он сам имен своих не знает:
Как ни зовите, – все равно
Он из воды не вылезает,
Лежит, как мокрое бревно.

Нам не везло сегодня с мамой.
Его мы ждали целый час.
А он со дна глубокой ямы
Не замечал, должно быть, нас.

Лежал он гладкий, толстокожий,
В песок уткнувшись головой,
На кожу ветчины похожий
В огромной миске суповой.

По целым дням из водоема
Он не выходит, – там свежей.
– Есть у него часы приема? –
Спросили мы у сторожей.

– Да, есть часы приема пищи.
Его мы кормим по часам. –
И вдруг, блестя, как голенище,
Поднялся сам
Гиппопотам.

Должно быть, у него промокли
Мозги от постоянных ванн,
Глаза посажены в бинокли,
А рот раскрыт, как чемодан.

Он оглядел стоявших рядом
Гостей непрошеных своих,
К решетке повернулся задом,
Слегка нагнулся – и бултых!

Я думаю, гиппопотама
Зовут так трудно для того,
Чтоб сторож из глубокой ямы
Пореже вызывал его!..

Hippopotamus

Mẹ và tớ đã bàn nhau
Cùng chờ đến ngày được nghỉ
Đi thăm hi-hi-ta-mus
À, hi-pô-pô-tô-tô..
Ồ, hi-tô-tô-pô-pô..
Mẹ ơi, nói hộ con với!

Cùng bước vào cánh cổng mở
Tớ cùng mẹ chạy vào trong
Và nhìn thấy hi… hà mã
Chúng mình gọi thế cho xong.

Nó còn chả biết tên nó
Gọi kiểu gì – cũng thế thôi
Nó chẳng thèm ra khỏi nước
Nằm như khúc gỗ ướt trôi.

Chúng mình rõ không gặp may
Đợi nó đến tận một tiếng
Nó nằm tận đáy hố sâu
Chẳng nhìn chúng mình một miếng.

Nó nằm phẳng chưa, da dày
Rúc đầu vào cát, lạ không,
Trông giống da miếng giăm bông
Trong một đĩa xúp to tướng.

Mà suốt cả ngày vẫn thế
Toàn nằm trong hồ làm duyên.
– Nó có giờ tiếp khách chứ?
Chúng mình hỏi bác nhân viên.

– À có giờ tiếp thức ăn
Chúng tôi mỗi giờ nuôi chúng. –
Bỗng lấp lánh như chiếc ủng
Hippopotamus
Đứng lên

Chắc hẳn não nó bị ướt
Vì bị ngâm nước thường kỳ
Mắt như  ống nhòm nhà hát
Miệng há, như cái va li

Nó liếc mắt nhìn tứ phía
Khắp các vị khách không mời
Rồi quay mông lại song sắt
Ầm một cái – xuống nước rồi!

Chắc Hippopotamus
Có tên khó thế bao giờ
Là để nhân viên không gọi
Nó thường xuyên ra khỏi hồ!

Fomka – chú gấu trắng – Marshak

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nói chung là chỉ còn vài bài nữa là hết loạt thơ này, nhưng càng về cuối càng thấy khó dịch…

ФОМКА

Перед бассейном в зоопарке –
Медвежьи мокрые следы. –
С тяжелым плеском в полдень жаркий
Медведь выходит из воды.

Еще в костях он очень тонок,
Еще и ростом невелик.
Он не медведь, а медвежонок,
Но белоснежен, как старик.

Легко узнать по белой шкуре
Бродягу ледяных полей.
Слыхал он посвист зимней бури
На дальней родине своей.

Встречался с вьюгой и поземкой,
Ночуя с матерью на льду.
Теперь его прозвали Фомкой
И жить заставили в саду.

Он здесь ночует не на льдине,
А на асфальтовой горе.
Его тревожит крик павлиний,
Рычанье тигра на заре.

Он ищет днем прохладной тени
И, не найдя ее нигде,
Томясь от скуки и от лени,
Беззвучно шлепает к воде.

Рычит на сторожа негромко…
Но не рычи, – придет зима,
Вернутся вьюга и поземка –
И будешь ты уже не Фомка,
А матерОй медведь Фома!

FOMKA

Ttrong vườn thú trước bể bơi
Vết chân gấu còn ướt đẫm –
Giữa trưa nắng đang gay gắt
Gấu ra khỏi nước phì phào.

Xương gấu vẫn còn mảnh lắm
Gấu vẫn thấp, chưa cao mà
Vẫn là gấu con thôi đấy
Nhưng trắng như tóc cụ già

Nhìn bộ da trắng là biết
Cư dân miền đất giá băng
Gấu đã nghe bão đông thổi
Nơi quê xa tuyết vĩnh hằng.

Từng ngủ trên băng cùng mẹ
Nghe cơn bão tuyết gào la
Giờ sống trong vườn bách thú
Và người ta gọi Fomka

Giờ không qua đêm trên băng
Mà trên đồi phủ nhựa đường
Tiếng chim công làm tỉnh giấc
Và tiếng hổ gầm trong sương

Ban ngày đi tìm bóng mát
Nhưng nào có thấy chốn nao!
Buồn bã và lười mệt lả
Đành xuống nước bơi rì rào

Đôi khi gầm bác bảo vệ
Nhưng đừng gầm nữa, gấu ơi
Mùa đông, bão tuyết sẽ đến
Gấu không còn là Fomka
Gấu lớn thành Foma thôi!

Nhà trẻ của thú – tiếp tục chuỗi thơ của Marshak

ДЕТСКИЙ ДОМ

Весною в нынешнем году
В зоологическом саду
Олень и лев, барсук и рысь
И медвежата родились.

Для них устроен детский дом
С зеленым лугом и прудом.
Они играют и лежат.
Козел бодает медвежат.
А лев и волк несутся вскачь
И разноцветный гонят мяч.

Промчатся быстро год и два,
И станет волк бояться льва,
И жить на свете будут врозь
Барсук и лев, медведь и лось.

NHÀ TRẺ

Vào mùa xuân năm nay
Ở trong vườn bách thú,
Chồn, linh miêu, sư tử
Voi, gấu cùng sinh con

Nhà trẻ dành cho chúng
Có ao, cỏ xanh om
Thú con chơi và nghỉ
Dê con húc gấu con
Sư tử cùng với sói
Đuổi theo quả bóng tròn

Năm tháng rồi trôi qua
Sói sẽ sợ sư tử
Gấu, tuần lộc với chồn
Chẳng ở chung như cũ.