Karamzin và mùa thu


Nikolai Karamzin (1766 — 1826)

Anh Nikolai Karamzin thì hay dùng ngôn ngữ … cổ, (thì tất nhiên là cổ rồi, anh ấy còn viết trước thời Pushkin mà , ở đây ý nói anh ý hay sử dụng ngôn ngữ sách vở, kinh thánh, nhà thờ gì đó). Tất nhiên khi nói đến Karamzin thì người ta nghĩ ngay đến “Cô Liza đáng thương” (hay cô Liza nghèo hèn? – Бедная Лиза – bao cô bé đã khóc vì số phận của nàng Liza khi đi bán hoa tử đinh hương ở chợ tỉnh). Nhưng mặc dù vậy, Karamzin (1766 – 1826) còn là một nhà thơ trữ tình có đóng góp đáng kể cho thi ca Nga.

Những năm tháng tuổi trẻ của Karamzin đã khiến ông say mê những ý tưởng khai sáng, yêu con người (có đôi chút hơi lên gân). Và những suy tư của trái tim và tâm hồn con người trở thành một phần không thể tách rời của thơ Karamzin, cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi ông trở thành người đứng đầu của văn học tình cảm trước lãng mạn Nga (chậc chậc, cái chữ сентиментальная литература khó dịch ghê).

Những phong cảnh buồn ảo, tình yêu xúc động, những chấm phá tinh tế của tâm hồn, niềm vui gây cảm hứng của gặp mặt, nỗi buồn ngọt ngào của chia ly, những nghĩ suy triết lý về sự phù du của cuộc đời – tất cả những gì tạo nên bản chất cuộc sống cá nhân của con người – đều có trong thế giới thi ca tình cảm của Karamzin.

Chắc lúc nào Nina rảnh hơn sẽ xin giới thiệu nhiều hơn về nhà văn – nhà thơ này. Còn bây giờ thì xin giới thiệu một bài thơ thu của ông, cũng đầy đủ các thứ

Осень

Николай Карамзин
——————————————–
Веют осенние ветры
В мрачной дубраве;
С шумом на землю валятся
Желтые листья.

Поле и сад опустели;
Сетуют холмы;
Пение в рощах умолкло –
Скрылися птички.

Поздние гуси станицей
К югу стремятся,
Плавным полетом несяся
В горних пределах.

Вьются седые туманы
В тихой долине;
С дымом в деревне мешаясь,
К небу восходят.

Странник, стоящий на холме,
Взором унылым
Смотрит на бледную осень,
Томно вздыхая.

Странник печальный, утешься!
Вянет природа
Только на малое время;
Все оживится,

Все обновится весною;
С гордой улыбкой
Снова природа восстанет
В брачной одежде.

Смертный, ах! вянет навеки!
Старец весною
Чувствует хладную зиму
Ветхия жизни.

1789, Женева

Mùa thu

Nikolai Karamzin
—————————————
Gió mùa thu đang thổi
Trong rừng sồi âm u
Những chiếc lá vàng úa
Rơi xuống đất vù vù

Ruộng vườn giờ vắng vẻ;
Những ngọn đồi thở than;
Rừng bây giờ im tiếng –
Chim bay đi hàng đàn.

Và những đàn ngỗng muộn
Vội bay về phương nam
Nhẹ nhàng bay uyển chuyển
Trên tầm cao ngút ngàn

Những màn sương bạc trắng
Trong thung lũng lặng yên
Hòa cùng làn khói bếp
Trong làng bốc lên trời

Người lữ khách trên đồi
Ánh mắt sao buồn nản
Nhìn mùa thu nhợt nhạt
Và cất tiếng thở dài

Ơi lữ khách u sầu
Chớ buồn: trời đất héo
Chỉ trong vài khoảnh khắc
Rồi sẽ sống dậy thôi

Xuân sẽ đem áo mới
Và kiêu hãnh nụ cười
Thiên nhiên sẽ bừng dậy
Trong áo cưới đẹp tươi

Người sẽ héo vĩnh viễn!
Cụ già trong mùa xuân
Cảm thấy đông lạnh lẽo
Của cuộc đời mong manh

1789, Genève