Em đừng hát với tôi, ơi người đẹp – Pushkin

Bài thơ này được Pushkin viết ngày 12/06/1828, tặng cho nữ bá tước Anna Alekseevna Andro-Olenina, người yêu của nhà thơ khoảng thời gian 1828-29. Bà cũng là người được nhà thơ tặng cho những bài thơ “Ông và anh”, “Đôi mắt nàng”, “Tôi yêu em”, nhiều đoạn thơ trong “Evgeny Onegin”, vv.

 Orest Kiprensky. Chân dung Anna Alekseevna Andro-Olenina

Olenina hát tốt, và học hát với nhà soạn nhạc M.I.Glinka. Một lần Pushkin tình cờ nghe được một giai điệu Gruzia do nhà thơ A.S.Griboedov đem về từ Kavkaz và kể với Glinka. Điều này đã khiến Pushkin nhớ lại thời gian mùa hè năm 1820, khi ông sống ở Bắc Kavkaz, và ông sáng tác bài thơ này.

Giai điệu Gruzia nhắc đến trong bài thơ được Glinka sử dụng khi phổ nhạc cho bài thơ này. Tuy nhiên thực tình mà nói, phương án phổ nhạc của Rachmaninov lại nổi tiếng hơn, và được nhiều người hát hơn. Cá nhân mình cũng thấy phương án Rachmaninov hay hơn. Còn chuyện người thể hiện thì mình không độc đáo gì – bạn Netrebko mới thu âm nên qua cái laptop dở hơi của mình nghe hay hơn 🙂

Thật ra bài này mình dịch lâu rồi, nhưng bản thảo thất lạc trên mạng. Đến nay không tìm được, nên mình ngẫu hứng dịch version mới

* * *

Не пой, красавица, при мне
Ты песен Грузии печальной:
Напоминают мне оне
Другую жизнь и берег дальный.

Увы! напоминают мне
Твои жестокие напевы
И степь, и ночь — и при луне
Черты далёкой, бедной девы.

Я призрак милый, роковой,
Тебя увидев, забываю;
Но ты поёшь — и предо мной
Его я вновь воображаю.

Не пой, красавица, при мне
Ты песен Грузии печальной:
Напоминают мне оне
Другую жизнь и берег дальный.

12 июня 1828 г

* * *

Em đừng hát với tôi, ơi người đẹp
Những khúc hát xứ Gruzia buồn rầu:
Chúng nhắc tôi một cuộc đời rất khác
Và một bến bờ xa lắc từ lâu.

Than ôi! Những khúc ca nghiệt ngã
Mà em ca luôn nhắc lại với tôi
Cả thảo nguyên, màn đêm, trăng sáng
Một thiếu nữ đáng thương đã xa cách lắm rồi.

Khi thấy em, tôi tưởng chừng quên được
Bóng hình kia, định mệnh, thân thương;
Nhưng em hát, và tôi lại thấy
Một bóng hình trước mắt giữa màn sương.

Em đừng hát với tôi, ơi người đẹp
Những khúc hát xứ Gruzia buồn rầu:
Chúng nhắc tôi một cuộc đời rất khác
Và một bến bờ xa lắc từ lâu.

12.06.1828

Advertisements

Đôi bờ – bản dịch rất cũ

Đây vốn là một bài hát trong bộ phim “Cơn khát” (Жажда) được chiếu từ năm 1959. Bài hát này thì có lẽ được nhiều người Việt Nam biết đến. Có thể do giai điệu dễ nghe, ca từ dịu dàng, và chung thủy, hay còn do điều gì nữa không rõ.

Bản dịch này mình dịch cũng lâu rồi, hình như từ thời còn chơi blog bên Yahoo, nhưng sau này thất tán trên mạng. Mình không đánh giá cao bản dịch của mình lắm, nhưng tìm lại được thì đăng nó lên thôi.

Riêng về phần dịch thơ, mình luôn chủ trương cố gắng truyền đạt hết ý nghĩa mà tác giả định nói, thêm bớt tối thiểu. Vì thế nên dịch chưa chắc đã hay, nhưng thường ít khi sai. Tuy nhiên trong bản dịch này, mình vẫn dịch thành thiên nga, cho nó …. thi vị, vì khổ cái là thường khi nói đến vịt, thì người Việt Nam hay nghĩ đến tiết canh, hơn là đôi chim hạnh phúc.


Майя Кристалинская (за кадром) – Два берега (1959)
Maya Kristalinskaya (giọng hát) – Đôi bờ

Два берега

Григорий Поженян

Ночь была с ливнями,
И трава в росе.
Про меня “счастливая”
Говорили все.
И сама я верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Утки все парами,
Как с волной волна,
Все девчата с парнями,
Только я одна.
Я ждала и верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Ночь была, был рассвет,
Словно тень крыла.
У меня другого нет,
Я тебя ждала.
Всё ждала и верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Đôi bờ

Pozhenian Grigory

Mưa rào rơi đêm qua
Sương đang đọng trên lá…
“Em hạnh phúc tuyệt vời!” –
Đó là lời tất cả
Và chính em cũng tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Thiên nga bơi từng đôi
Như sóng chạy bên sóng
Bạn bè tay trong tay
Một mình em đơn độc
Em vẫn chờ vẫn tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Đêm qua rồi. Bình minh
Như bóng đen bao phủ
Em chẳng có ai khác
Em vẫn đợi chờ anh
Đợi chờ và vẫn tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Volga, sông sâu thăm thẳm – dân ca Nga

Bỗng dưng tìm được một bản dịch cũ một bài dân ca về sông Volga …

 

reka_Volga_photographoya_2-1Sông Volga. Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa

Ai cũng biết, văn minh nhân loại hình thành bên những con sông. Sông Volga có vai trò đặc biệt đối với người Nga – con sông mẹ, con sông xinh đẹp, con sông thần thánh. Nên trong dân ca Nga, có nhiều bài hát về sông Volga là đương nhiên thôi…

Волга-реченька глубока

(русская народная песня)

Волга-реченька глубока
Бьет волнами берега.
Мил уехал, не простился,
Знать, любовь не дорога.

Ой, туманы голубые,
Серебристая волна.
Неужели ко мне милый
Не вернется никогда!

Цвела вишня всем на диво,
Ветром сдуло белый цвет.
Я б другого полюбила,
Да Любови в сердце нет.

Возле бережка крутого
День и ночь волна шумит.
Хорошо любить такого,
Кто любовью дорожит.

Volga, sông sâu thăm thẳm

Dân ca Nga

Ôi Volga, sông sâu thăm thẳm
Tiếng sóng vỗ bờ như tiếng vọng con tim.
Người yêu ra đi không nói lời từ biệt
Có nghĩa là chẳng quý trọng tình em.

Ôi những màn sương mù xanh biếc,
Và những con sóng bạc dưới trăng thâu,
Có lẽ nào chàng sẽ không trở lại
Không bao giờ trở lại với em đâu!

Vườn anh đào nở đầy hoa xinh đẹp,
Một cơn gió về, cánh hoa trắng tung bay.
Ôi giá như em yêu người khác,
Nhưng trong tim tình yêu chẳng có đây.

Ở nơi đó, gần bờ dốc đứng
Sóng vỗ bờ chẳng kể ngày đêm.
Thật là tuyệt nếu yêu người ấy,
Người biết trân trọng mối tình em.

Còn clip minh họa – mình chọn Alla Solenkova. Các ca sĩ xưa hát có gì đó trong sáng rất cuốn hút.

Алла Соленкова Волга реченька Русская народная песня
Alla Solenkova Volga-river Russian Folk Song

Thác nước – nhiều tác giả

Một tỷ năm chẳng dịch được gì, bỗng dưng sáng nay nổi hứng  🙂

Một bài thơ trên mạng, không rõ tác giả. Khả năng là trên mạng, ai đó làm một khổ thơ đầu, rồi người khác nối tiếp. Rồi các chị trích dẫn và đến mình đọc, thì trong phút rảnh rỗi sau bữa sáng rất muộn, tự dưng ngồi dịch.

Ảnh minh họa thì lấy Thác Bản Giốc cho đậm đà bản sắc dân tộc, ảnh cũng đẹp mà

hung-vi-thac-ban-gioc-4_resize

Водопад

Среди глыб с горы высокой
Ручьи веселые спешат,
И вдруг, сливаясь в сток широкий,
Являют грозный водопад.

Громады волн гребнями хлещут
В паденье быстром и крутом
И, разбиваясь, ярко блещут
Вокруг сверкающим дождем.

Протяжный гул ревет и стонет
По тихой матери – реке.
И, наигравшись с пеной влажной,
Смолкает кротко вдалеке.

А я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно.

А капли попадают на глаза,
На нос, на губы и на руки тоже,
Я вся уж мокрая. Наверное, сейчас
Я на котенка мокрого похожа.

Но я иду, ловлю губами дождь
И все печали, горести смываю.
Я самый чистый и невинный человек
(Я только в дождь всегда такой бываю).

Да, я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно…

Thác nước

Giữa những đá tảng trên ngọn núi cao
Những con suối nhỏ vui vội vã,
Rồi nhập thành một dòng sông cả,
Bỗng hiện ra một thác nước hung tàn

Những ngọn sóng khổng lồ gào thét
Rồi chúng rơi, thẳng đứng, rất nhanh
Rồi vỡ ra, và sáng lên lấp lánh
Thành cơn mưa rực rỡ xung quanh.

Một tiếng thét, tiếng rên dằng dặc,
Gọi người mẹ hiền lặng lẽ – con sông.
Nhưng chơi chán bọt sóng kia ẩm ướt
Lặng yên dần theo khoảng cách mông lung.

Em thì thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Những giọt mưa cũng rơi xuống mắt,
Xuống mũi, xuống môi và xuống đôi tay.
Em ướt hết. Có lẽ giờ này ấy
Em giống con mèo nhỏ ướt lắm thay.

Nhưng em đi, giọt mưa môi thấm.
Và rửa đi những sầu khổ, đau buồn,
Em lại trở thành người vô tội
Chỉ trong mưa em mới thế, luôn luôn.

Và em thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Gọi là khai bút cũng tạm được 🙂

Buổi chiều buông khói tỏa – Esenin

Một tỷ năm mới lại có hứng thú dịch thơ, ăn theo chị Quỳnh Hương, và lần này là thơ của Esenin

Nhưng mà mình không dịch được thơ sến, mình toàn dịch thành vè 🙂

*  * *
Buổi chiều buông khói tỏa
Mèo ngủ trên thanh dầm,
Ai cầu nguyện âm thầm
“Giê-su-ma, lạy chúa”.

Ánh hoàng hôn rực lửa,
Sương mù lan dần ra,
Cửa sổ chạm trong nhà
Buông tấm rèm nhung đỏ.

Nhà kho vàng nho nhỏ
Mạng nhện dệt đăng ten
Có tiếng chuột chút chít,
Trong căn buồng kế bên…

Nơi bìa rừng trảng cỏ
Lúa mì bó vàng tươi,
Những cây thông hùng vĩ
Như mũi giáo chọc trời.

Cánh rừng thưa tỏa khói
Dưới những giọt sương đêm
Yên lặng và thánh tích
An nghỉ trong trái tim.

*  * *
Задымился вечер, дремлет кот на брусе,
Кто-то помолился: “Господи Исусе”.

Полыхают зори, курятся туманы,
Над резным окошком занавес багряный.

Вьются паутины с золотой повети.
Где-то мышь скребется в затворенной клети…

У лесной поляны — в свяслах копны хлеба,
Ели, словно копья, уперлися в небо.

Закадили дымом под росою рощи…
В сердце почивают тишина и мощи.

1912

Giờ em đã không còn cười nữa – Anna Akhmatova

Bài thơ này thì hình như mình đã dịch rồi, nhưng bị thất lạc trong quá trình lưu trữ 🙂

Анна Ахматова
Я улыбаться перестала,
Морозный ветер губы студит,
Одной надеждой меньше стало,
Одною песней больше будет.

И эту песню я невольно
Отдам на смех и поруганье,
Затем, что нестерпимо больно
Душе любовное молчанье.

Anna Akhmatova
Giờ em đã không còn cười nữa
Gió lạnh làm buốt giá đôi môi,
Một hy vọng giờ không còn nữa,
Một bài ca thêm với cuộc đời.

Em vô tình đem bài hát ấy
Cho cuộc đời chửi rủa, nhạo cười,
Bởi tâm hồn đau không chịu nổi
Khi tình yêu chỉ im lặng mà thôi.

Vợ của thánh Lót – Anna Akhmatova

Thêm một bài được đặt hàng. Có lẽ là mình chưa thấm được bản gốc, nên bản dịch hơi lủng củng

Thánh Lót ở đây là thánh Lót trong Kinh Thánh. Khi Chúa trời quyết định trừng phạt hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ đầy tội ác, thì chỉ có Lót và gia đình được cứu thoát – hai thiên sứ dẫn Lót và gia đình ra khỏi thành phố này, và dặn họ cứ đi, không được nhìn lại. Tuy nhiên vợ của thánh Lót đã lỡ nhìn lại thành phố Sô-đôm bốc lửa, và bị biến thành tượng muối (Sáng thế ký, chương 19).

800px-Flight_of_LotThánh Lót chạy khỏi Sodom. Tranh của Gustave Dore.

Лотова жена

Анна Ахматова

И праведник шел за посланником Бога,
Огромный и светлый, по черной горе.
Но громко жене говорила тревога:
Не поздно, ты можешь еще посмотреть
На красные башни родного Содома,
На площадь, где пела, на двор, где пряла,
На окна пустые высокого дома,
Где милому мужу детей родила.
Взглянула – и, скованы смертною болью,
Глаза ее больше смотреть не могли;
И сделалось тело прозрачною солью,
И быстрые ноги к земле приросли.

Кто женщину эту оплакивать будет?
Не меньшей ли мнится она из утрат?
Лишь сердце мое никогда не забудет
Отдавшую жизнь за единственный взгляд.
(1924)

Vợ của thánh Lót

Anna Akhmatova

Và thánh Lót bước đi sau thiên sứ của Chúa trời
Cao lớn, sáng ngời, theo núi đen từng bước
Nhưng nỗi lo lắng nói to cùng người vợ:
Vẫn còn chưa muộn, em hãy nhìn nữa
Những tháp đỏ thành phố Sodom thân thương
Nơi ngày xưa em hát ở quảng trường
Nơi kéo sợi ngoài sân, khung cửa sổ ngôi nhà.
Nơi những đứa con em đã sinh ra.
Nàng nhìn lại, và cơn đau chết chóc.
Khóa lấy người – mắt không còn nhìn thấy;
Thân thể nàng trở thành muối trong suốt
Cặp chân nhanh gắn chặt xuống đường.

Ai sẽ khóc cho người đàn bà ấy?
Mất mát của nàng có phải cũng ít thôi?
Nhưng có điều không quên được trong tôi
Cuộc đời hiến dâng vì cái nhìn duy nhất.
(1924)