Volga, sông sâu thăm thẳm – dân ca Nga

Bỗng dưng tìm được một bản dịch cũ một bài dân ca về sông Volga …

 

reka_Volga_photographoya_2-1Sông Volga. Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa

Ai cũng biết, văn minh nhân loại hình thành bên những con sông. Sông Volga có vai trò đặc biệt đối với người Nga – con sông mẹ, con sông xinh đẹp, con sông thần thánh. Nên trong dân ca Nga, có nhiều bài hát về sông Volga là đương nhiên thôi…

Волга-реченька глубока

(русская народная песня)

Волга-реченька глубока
Бьет волнами берега.
Мил уехал, не простился,
Знать, любовь не дорога.

Ой, туманы голубые,
Серебристая волна.
Неужели ко мне милый
Не вернется никогда!

Цвела вишня всем на диво,
Ветром сдуло белый цвет.
Я б другого полюбила,
Да Любови в сердце нет.

Возле бережка крутого
День и ночь волна шумит.
Хорошо любить такого,
Кто любовью дорожит.

Volga, sông sâu thăm thẳm

Dân ca Nga

Ôi Volga, sông sâu thăm thẳm
Tiếng sóng vỗ bờ như tiếng vọng con tim.
Người yêu ra đi không nói lời từ biệt
Có nghĩa là chẳng quý trọng tình em.

Ôi những màn sương mù xanh biếc,
Và những con sóng bạc dưới trăng thâu,
Có lẽ nào chàng sẽ không trở lại
Không bao giờ trở lại với em đâu!

Vườn anh đào nở đầy hoa xinh đẹp,
Một cơn gió về, cánh hoa trắng tung bay.
Ôi giá như em yêu người khác,
Nhưng trong tim tình yêu chẳng có đây.

Ở nơi đó, gần bờ dốc đứng
Sóng vỗ bờ chẳng kể ngày đêm.
Thật là tuyệt nếu yêu người ấy,
Người biết trân trọng mối tình em.

Còn clip minh họa – mình chọn Alla Solenkova. Các ca sĩ xưa hát có gì đó trong sáng rất cuốn hút.

Алла Соленкова Волга реченька Русская народная песня
Alla Solenkova Volga-river Russian Folk Song

Thác nước – nhiều tác giả

Một tỷ năm chẳng dịch được gì, bỗng dưng sáng nay nổi hứng  🙂

Một bài thơ trên mạng, không rõ tác giả. Khả năng là trên mạng, ai đó làm một khổ thơ đầu, rồi người khác nối tiếp. Rồi các chị trích dẫn và đến mình đọc, thì trong phút rảnh rỗi sau bữa sáng rất muộn, tự dưng ngồi dịch.

Ảnh minh họa thì lấy Thác Bản Giốc cho đậm đà bản sắc dân tộc, ảnh cũng đẹp mà

hung-vi-thac-ban-gioc-4_resize

Водопад

Среди глыб с горы высокой
Ручьи веселые спешат,
И вдруг, сливаясь в сток широкий,
Являют грозный водопад.

Громады волн гребнями хлещут
В паденье быстром и крутом
И, разбиваясь, ярко блещут
Вокруг сверкающим дождем.

Протяжный гул ревет и стонет
По тихой матери – реке.
И, наигравшись с пеной влажной,
Смолкает кротко вдалеке.

А я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно.

А капли попадают на глаза,
На нос, на губы и на руки тоже,
Я вся уж мокрая. Наверное, сейчас
Я на котенка мокрого похожа.

Но я иду, ловлю губами дождь
И все печали, горести смываю.
Я самый чистый и невинный человек
(Я только в дождь всегда такой бываю).

Да, я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно…

Thác nước

Giữa những đá tảng trên ngọn núi cao
Những con suối nhỏ vui vội vã,
Rồi nhập thành một dòng sông cả,
Bỗng hiện ra một thác nước hung tàn

Những ngọn sóng khổng lồ gào thét
Rồi chúng rơi, thẳng đứng, rất nhanh
Rồi vỡ ra, và sáng lên lấp lánh
Thành cơn mưa rực rỡ xung quanh.

Một tiếng thét, tiếng rên dằng dặc,
Gọi người mẹ hiền lặng lẽ – con sông.
Nhưng chơi chán bọt sóng kia ẩm ướt
Lặng yên dần theo khoảng cách mông lung.

Em thì thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Những giọt mưa cũng rơi xuống mắt,
Xuống mũi, xuống môi và xuống đôi tay.
Em ướt hết. Có lẽ giờ này ấy
Em giống con mèo nhỏ ướt lắm thay.

Nhưng em đi, giọt mưa môi thấm.
Và rửa đi những sầu khổ, đau buồn,
Em lại trở thành người vô tội
Chỉ trong mưa em mới thế, luôn luôn.

Và em thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Gọi là khai bút cũng tạm được 🙂

Buổi chiều buông khói tỏa – Esenin

Một tỷ năm mới lại có hứng thú dịch thơ, ăn theo chị Quỳnh Hương, và lần này là thơ của Esenin

Nhưng mà mình không dịch được thơ sến, mình toàn dịch thành vè 🙂

*  * *
Buổi chiều buông khói tỏa
Mèo ngủ trên thanh dầm,
Ai cầu nguyện âm thầm
“Giê-su-ma, lạy chúa”.

Ánh hoàng hôn rực lửa,
Sương mù lan dần ra,
Cửa sổ chạm trong nhà
Buông tấm rèm nhung đỏ.

Nhà kho vàng nho nhỏ
Mạng nhện dệt đăng ten
Có tiếng chuột chút chít,
Trong căn buồng kế bên…

Nơi bìa rừng trảng cỏ
Lúa mì bó vàng tươi,
Những cây thông hùng vĩ
Như mũi giáo chọc trời.

Cánh rừng thưa tỏa khói
Dưới những giọt sương đêm
Yên lặng và thánh tích
An nghỉ trong trái tim.

*  * *
Задымился вечер, дремлет кот на брусе,
Кто-то помолился: “Господи Исусе”.

Полыхают зори, курятся туманы,
Над резным окошком занавес багряный.

Вьются паутины с золотой повети.
Где-то мышь скребется в затворенной клети…

У лесной поляны — в свяслах копны хлеба,
Ели, словно копья, уперлися в небо.

Закадили дымом под росою рощи…
В сердце почивают тишина и мощи.

1912

Giờ em đã không còn cười nữa – Anna Akhmatova

Bài thơ này thì hình như mình đã dịch rồi, nhưng bị thất lạc trong quá trình lưu trữ 🙂

Анна Ахматова
Я улыбаться перестала,
Морозный ветер губы студит,
Одной надеждой меньше стало,
Одною песней больше будет.

И эту песню я невольно
Отдам на смех и поруганье,
Затем, что нестерпимо больно
Душе любовное молчанье.

Anna Akhmatova
Giờ em đã không còn cười nữa
Gió lạnh làm buốt giá đôi môi,
Một hy vọng giờ không còn nữa,
Một bài ca thêm với cuộc đời.

Em vô tình đem bài hát ấy
Cho cuộc đời chửi rủa, nhạo cười,
Bởi tâm hồn đau không chịu nổi
Khi tình yêu chỉ im lặng mà thôi.

Vợ của thánh Lót – Anna Akhmatova

Thêm một bài được đặt hàng. Có lẽ là mình chưa thấm được bản gốc, nên bản dịch hơi lủng củng

Thánh Lót ở đây là thánh Lót trong Kinh Thánh. Khi Chúa trời quyết định trừng phạt hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ đầy tội ác, thì chỉ có Lót và gia đình được cứu thoát – hai thiên sứ dẫn Lót và gia đình ra khỏi thành phố này, và dặn họ cứ đi, không được nhìn lại. Tuy nhiên vợ của thánh Lót đã lỡ nhìn lại thành phố Sô-đôm bốc lửa, và bị biến thành tượng muối (Sáng thế ký, chương 19).

800px-Flight_of_LotThánh Lót chạy khỏi Sodom. Tranh của Gustave Dore.

Лотова жена

Анна Ахматова

И праведник шел за посланником Бога,
Огромный и светлый, по черной горе.
Но громко жене говорила тревога:
Не поздно, ты можешь еще посмотреть
На красные башни родного Содома,
На площадь, где пела, на двор, где пряла,
На окна пустые высокого дома,
Где милому мужу детей родила.
Взглянула – и, скованы смертною болью,
Глаза ее больше смотреть не могли;
И сделалось тело прозрачною солью,
И быстрые ноги к земле приросли.

Кто женщину эту оплакивать будет?
Не меньшей ли мнится она из утрат?
Лишь сердце мое никогда не забудет
Отдавшую жизнь за единственный взгляд.
(1924)

Vợ của thánh Lót

Anna Akhmatova

Và thánh Lót bước đi sau thiên sứ của Chúa trời
Cao lớn, sáng ngời, theo núi đen từng bước
Nhưng nỗi lo lắng nói to cùng người vợ:
Vẫn còn chưa muộn, em hãy nhìn nữa
Những tháp đỏ thành phố Sodom thân thương
Nơi ngày xưa em hát ở quảng trường
Nơi kéo sợi ngoài sân, khung cửa sổ ngôi nhà.
Nơi những đứa con em đã sinh ra.
Nàng nhìn lại, và cơn đau chết chóc.
Khóa lấy người – mắt không còn nhìn thấy;
Thân thể nàng trở thành muối trong suốt
Cặp chân nhanh gắn chặt xuống đường.

Ai sẽ khóc cho người đàn bà ấy?
Mất mát của nàng có phải cũng ít thôi?
Nhưng có điều không quên được trong tôi
Cuộc đời hiến dâng vì cái nhìn duy nhất.
(1924)

Hoa bất tử – thơ không đề của Anna Akhmatova

Thực ra thì là thơ không đề, nhưng vì chữ đầu tiên trong bài là Hoa bất tử, nên mình gọi thế. Đây cũng là một bản dịch theo đơn đặt hàng chuyển qua chị Sonata 🙂

bessmertnik

* * *
Анна Ахматова
Бессмертник сух и розов. Облака
На свежем небе вылеплены грубо.
Единственного в этом парке дуба
Листва еще бесцветна и тонка.

Лучи зари до полночи горят.
Как хорошо в моем затворе тесном!
О самом нежном, о всегда чудесном
Со мной сегодня птицы говорят.

Я счастлива. Но мне всего милей
Лесная и пологая дорога,
Убогий мост, скривившийся немного,
И то, что ждать осталось мало дней.

Лето 1916
Слепнево

* * *
Anna Akhmatova
Hoa bất tử khô và hồng nhạt.
Mây trên trời trông khá là thô.
Cây sồi duy nhất công viên nọ
Lá vẫn còn mỏng lắm lơ thơ.

Tia sáng bình minh cháy đến tận nửa đêm.
Trong khung cửa hẹp nhà tôi thật tuyệt!
Những điều diệu kỳ, dịu dàng, tha thiết
Là những chú chim đang nói chuyện với tôi.

Tôi hạnh phúc! Nhưng tôi yêu quý nhất
Là con đường rừng thoai thoải nơi đây
Một chiếc cầu xấu xí hơi cong quẹo,
Và ta chỉ còn phải chờ đợi ít ngày.

Mùa hè năm 1916
Slepnevo

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Một bài thơ được đặt hàng dịch, có thể do nó phù hợp với tình hình nóng bỏng hiện giờ chăng? Cá nhân mình thì không thích bài thơ này lắm, nhưng chả hiểu sao vẫn dịch được

ozero-baikal-2

Hồ Baikal.
Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa.

ОЗЕРО

Андрей Вознесенский

Я ночью проснулся. Мне кто-то сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.
Я на себе почувствовал взор,
Будто я моря убийца и вор.
Слышу – не спит иркутянин во мгле.
Курит. И предок проснулся в земле.
Когда ты болеешь, все мы больны.
Байкал, ты хрустальная печень страны!
И кто-то добавил из глубины:
“Байкал – заповедная совесть страны”.
Плыл я на лодке краем Байкала.
Вечер подсвечивал вполнакала.
Но неужели наука солгала
Над запрокинутым взором Байкала?
И неужели мы будем в истории –
“Эти, Байкал загубили которые?”
Надо вывешивать бюллетень,
Как себя чувствует омуль, тюлень.
Это не только отстойников числа –
Совесть народа должна быть чистой.
Вот почему, указав показуху,
Борются наши прорабы духа,
Чтоб заповедником стало озеро,
Чтоб его воды не целлюлозило,
Чтобы никто никогда не сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.

HỒ

Andrei Voznesensky

Tỉnh giấc giữa đêm. Có người bảo tôi:
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.
Tôi cảm nhận một cái nhìn khốc liệt
Cứ như tôi – kẻ trộm, giết biển kia.
Tôi lắng nghe – người Irkut không ngủ
Hút thuốc trong sương. Cha ông thức giấc.
Khi người ốm, tất cả chúng ta cũng ốm.
Ôi Baikal, lá gan mỏng mảnh của nước ta!
Và ai đó từ hồ sâu nói tiếp:
“Baikal – lương tâm bảo tồn quốc gia”
Tôi bơi thuyền khắp quanh bờ hồ nước.
Buổi chiều đang thắp nến mơ hồ..
Nhưng không lẽ khoa học đi nói dối
Trước cái nhìn lật ngược của Baikal?
Và không lẽ rồi đây trong lịch sử
Chúng ta sẽ là kẻ bức tử Baikal?
Chắc là cần phải treo bảng thông tin,
Cá hồi trắng, hải ly khỏe hay đang ốm
Đó không phải là số những thằng khốn
Lương tâm nhân dân cần phải sáng trong.
Vì vậy nên, các đạo đức gia
Tích cực đấu tranh, chỉ ra bệnh thành tích
Để hồ nước thành khu bảo tồn đích thực
Để nước hồ không chứa xel-lu-lô
Để không ai có thể nói bao giờ
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.