Tiểu sử Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Vyacheslav Tikhonov (1928-2009)

Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Vyacheslav Tikhonov sinh ngày 8/2/1928 ở thành phố Pavlovsky Posad vùng Moskva. Người cha của ông là một kỹ sư cơ khí ở nhà máy dệt, còn mẹ là người nuôi dạy trẻ tại vườn trẻ.

Tikhonov lớn lên trong môi trường công nhân, và làm tất cả những gì các cậu bé thời đó làm khi phần lớn thời gian ở ngoài phố. Năm 1941, khi một quân y viện đóng trong trường, nơi Tikhonov học, thì người cha nói: “Cần phải có nghề ngỗng, chứ không nên lêu lổng như thế!” và Tikhonov vào học trường nghề.

Cũng giống như cha mình, từ bé Tikhonov đã thích tự làm mọi thứ trong nhà. Vì vậy, công việc thợ tiện trong nhà máy quân sự là không hề nặng nhọc. Buổi chiều sau giờ làm, Tikhonov thường cùng bạn bè tới rạp chiếu bóng “Vulcan”, và tất cả say mê xem những bộ phim anh hùng. Các nhân vật yêu quý của họ là Chapaev do Boris Babochkin đóng, Aleksandr Nevsky do Nikolai Cherkasov đóng và tất nhiên là những thần tượng của thời bấy giờ – Mikhail Zharov và Petr Aleinikov. “Đó là những người đã lôi cuốn tôi, và kéo tôi vào nghệ thuật” – sau này Vyacheslav Tikhonov sẽ nói.

Anh thợ tiện trẻ tuổi bí mật mơ ước về điện ảnh. Bí mật – bởi vì người cha thì mong con trai trở thành kỹ sư cơ khí, còn người mẹ thì muốn con mình sẽ thành kỹ sư nông nghiệp. Năm 1944 Vyacheslav vào học Trường đại học Cơ khí ô tô. Nhưng gần năm 1945 thì anh ấp ủ ý định thử vận may ở VGIK (Trường Đại học nghệ thuật điện ảnh toàn Liên Xô). Ban đầu anh không được nhận vào trường. Nhưng một duyên may đã xảy ra – sau kỳ thi tuyển thì giáo sư B.V.Bibikov của VGIK đã ghi tên anh vào lớp của mình.

Năm 1950 Vyacheslav Tikhonov tốt nghiệp xuất sắc VGIK. Trong những năm sinh viên, Tikhonov đã có mặt lần đầu trong bộ phim “Đội cận vệ thanh niên” (Молодая гвардия) của đạo diễn Sergei Gerasimov năm 1948 – anh đóng vai Volodia Osmukhin. Bộ phim này là một sự kiện đặc biệt của điện ảnh Xô-viết những năm 1940: giai đoạn chuẩn bị công phu và kỹ càng, sự nhập vai của các diễn viên (trong thời gian sống ở những nơi được A.A.Fadeev miêu tả trong tiểu thuyết), các tính cách đa dạng, sự hồi phục môi trường cụ thể và tin cậy. Bộ phim này đã tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo không chỉ cho V.Tikhonov, mà còn cả một thế hệ các diễn viên tài năng: Inna Makarova, Sergej Gurzo, Nonna Mordjukova, Viktor Hohrjakov, Klara Luchko, Sergej Bondarchuk, Evgenij Morgunov, Ljudmila Shagalova, Georgij Jumatov, Viktor Avdjushko, Tamara Nosova, Muza Krepkogorskaya. Hơn một nửa trong số các diễn viên trẻ này lần đầu tiên đóng phim. Vì vậy, bộ phim “Đội cận vệ thanh niên” có thể được gọi là sự ra mắt chói lọi của cả một thế hệ diễn viên Liên Xô sau chiến thanh. Dù cho sau này họ có đóng những vai nào đi nữa, thì điểm chung sáng tạo nội tâm của họ vẫn rất rõ nét

Mặc dù vậy, khác với phần lớn các diễn viên của “Đội cận vệ thanh niên”, sau năm 1948 thì có đến gần 10 năm Tikhonov không nhận được vai diễn nào quan trọng. Các đạo diễn chủ yếu là sử dụng hình thức của Tikhonov, không đặt mục đích phát triển tiềm năng diễn xuất. Tình hình này quả là nghịch lý còn vì diễn viên đã không trở thành ngôi sao, mặc dù có mọi điều kiện cần thiết.

Nhưng những năm tháng ấy không thể gọi là vô ích trong việc hình thành bản sắc diễn xuất cá nhân của Tikhonov: vai Gấu trong vở kịch “Điều kỳ diệu bình thường” do đạo diễn E.P.Garin dàn dựng đã giúp Tikhonov thông báo về năng khiếu diễn xuất của mình.


Tikhonov trong phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo“

Năm 1957 một biến chuyển mạnh mẽ được chờ đợi từ lâu rốt cuộc đã xảy ra trong sự nghiệp của Tikhonov: bộ phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo” (Дело было в Пенькове) của đạo diễn S.I.Rostovtsky được công chiếu. Vai anh thợ lái máy kéo Matvei Morozov đã mang lại cho Tikhonov sự thừa nhận của khán giả, và cùng với đó – khán giả cần thấy một diễn viên cho nhân vật của mình những nét mới đối với điện ảnh những năm ấy: sự lãng mạn trầm lặng, khiêm tốn trong cuộc sống thường nhật bình thường, tưởng như vĩnh cửu, nhưng dù sao cũng trôi qua. Có vẻ như trên màn ảnh điều này dễ trở thành giả dối (nhất là vì vẻ ngoài của diễn viên có vẻ không phù hợp với vai thợ lái máy kéo) – nhưng khán giả đã thừa nhận Matvei Morozov. Dường như họ cảm thấy rằng, bi kịch đích thực của nhân vật không phải ở mối tình bi thảm của anh ta, mà là ở sự không tương thích nội tâm của nhân vật với những hoàn cảnh. Bởi vì xét cho cùng Matvei Morozov không phải là một nhân vật thường nhật, mà ở một khía cạnh nào đó, là một người mơ mộng lãng mạn. Điều này thậm chí còn được nhấn mạnh trong cảnh “mơ mộng” của nhân vật, khi anh ta mơ thấy những chiếc máy kéo viễn tưởng của tương lai. Nói cách khác, khán giả phát hiện rằng nhân vật của Tikhonov không phải như cái nhìn ban đầu: anh ta thú vị hơn, thông minh hơn, phức tạp hơn so với khuôn mẫu “con người Xô viết bình thường” trong nhiều bộ phim khác.

Và thế là Vyacheslav Tikhonov đã tìm được đề tài diễn xuất của mình, và đó cũng là khởi đầu của sự hợp tác nghệ thuật nhiều năm của Tikhonov với đạo diễn S.I.Rostovtsky.

Trong bộ phim tiếp theo của mình – “Tình trạng khẩn cấp” (Чрезвычайное происшествие, 1958, đạo diễn Viktor Ivchenko), Tikhonov đóng vai Viktor Raisky, một thủy thủ Odessa vui vẻ, dường như vô tư lự, và đã trở thành một người anh hùng thật sự khi tàu bị cướp. Một lần nữa Tikhonov lại “đánh lừa” những khán giả không chờ đợi những chiến công ấy từ phía Raisky, và đánh lừa những kẻ địch tin vào sự ngờ nghệch của nhân vật. Và nếu như đối với kẻ thù, tính cách ấy của nhân vật tạo nên sự phá sản các kế hoạch của chúng (dù không phải sự phá sản hoàn toàn), thì đối với khán giả, người thủy thủ đáng tin cậy, nhận thức được sức mạng của mình trở thành “người của ta”, người mà khán giả có thể tuyệt đối tin tưởng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bộ phim này đã đứng đầu danh sách các bộ phim đắt khách nhất Liên Xô năm 1959.

Vai Andrei Bolkonsky trong “Chiến tranh và hòa bình”

Sau các bộ phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo” và “Tình trạng khẩn cấp” thì các đạo diễn bắt đầu tin tưởng Tikhonov. Và trong một thời gian ngắn, Tikhonov đã đóng sáu vai diễn lớn khác nhau trong các bộ phim “Những ngôi sao tháng năm” (Майские звезды, 1959) và “Theo bảy ngọn gió” (На семи ветрах, 1962) của đạo diễn S.I.Rostovsky; “Cơn khát” (Жажда, 1959) của đạo diễn E.Tashkov; “Chuẩn úy hải quân Panin” (Мичман Панин, 1960) của đạo diễn M.Shveitser; “Hai cuộc đời” (Две жизни, 1961) của đạo diễn L. Lukov và «Bi kịch lạc quan» (Оптимистическая трагедия, 1963) của đạo diễn S. Samsonov.

Hành động của ba bộ phim đầu diễn ra trong những năm tháng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; và do đó, Tikhonov có khả năng thể hiện chủ nghĩa anh hùng, lãng mạn và cao thượng của các nhân vật của mình rõ nét hơn. Đặc biệt thành công là vai Bezborodko trong phim “Cơn khát”, trong đó phần nào nghệ sĩ đã dự đoán trước vai Isaev – Stirlitz của mình. Hơn thế, chính vai diễn này đã cho thấy, rằng trong nền điện ảnh Liên Xô đã xuất hiện một diễn viên tài năng mới, người có khả năng chỉ qua cách mặc quân phục cũng thể hiện tính cách nhân vật. Và Tikhonov đã phát triển thành công, đóng vai các nhân vật từ quá khứ xa hơn, từ những năm Cách mạng Tháng Mười và trước đó nữa.

Cả chuẩn úy hải quân Panin (trong phim của Shveitser) và công tước Sergei Naschokin (trong “Hai cuộc đời”), và Aleksei (trong “Bi kịch lạc quan” đều có một điểm chung – cả ba nhân vật đều gắn liền một cách hữu cơ với bản chất nghệ sĩ của Tikhonov, đều cùng phát triển chủ đề nội tâm của diễn viên. Chuẩn úy hải quân Panin đã thực hiện thành công rực rỡ nhiệm vụ giải thoát tù nhân khỏi pháo đài Kronshtadt rồi sau đó – đánh lừa những kẻ địch của mình ở nước Nga. Còn công tước Naschokin thì ngược lại, không đánh lừa ai cả, ngoại trừ chính mình, và vì thế trở thành người thua cuộc… Cuối cùng, Aleksei đã cắt đứt với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ vì anh thông minh hơn và sâu sắc hơn bọn họ, và anh đã cho thấy, rằng anh không trở thành nhân vật chính diện nhờ chiếc đũa thần nào, mà ngay từ đầu anh đã là một nhân vật như vậy.

Trong nửa sau những năm 1960 Tikhonov đi thêm một bước tiến lớn tới đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất: vai Andrei Bolkonsky trong bộ phim sử thi “Chiến tranh và hòa bình” (Война и мир, 1965–1967) của đạo diễn Sergei Bondarchuk. Vai diễn này đã đòi hỏi diễn viên phải diễn với toàn bộ khả năng của mình, và Tikhonov cũng như tất cả các thành viên của bộ phim đã làm việc hết sức căng thẳng. Mặc dù vậy, vai diễn này không được lòng các nhà phê bình lắm (dù khán giả nghĩ khác), và bản thân đạo diễn dường như cũng không hài lòng lắm với vai diễn này. Tuy nhiên thời gian sau khi bộ phim được công chiếu đã cho thấy sự đúng đắn rõ ràng của diễn viên. Người ta nhận thấy rằng vai Bolkonsky của Tikhonov đã không những vượt quá thời đại của mình, mà còn … tụt hậu khỏi thời đại ấy, vì trong sâu thẳm tâm hồn mình, Bolkonsky là một người lý tưởng hóa không lay chuyển được. Có lẽ, Bolkonsky không chỉ thuộc về thời đại mà Tolstoi mô tả, anh thuộc về tất cả mọi thời. Và chính vì vậy, nếu không đòi hỏi diễn viên điều không thể, thì cần phải thừa nhận rằng cách thể hiện ấy là thuyết phục.

Trong phim “Gắng sống đến thứ hai“

Sau vai diễn phức tạp và rút hết sức lực nhường ấy, Vyacheslav Tikhonov đã vào vai thầy giáo Melnikov hết sức thành công trong bộ phim “Gắng sống đến thứ hai” (“Доживем до понедельника” -1969) của đạo diễn S.I.Rostotsky. Melnikov trở thành một nhân vật lý tưởng (với cách hiểu tốt đẹp nhất của từ này), và thậm chí – mẫu mực để bắt chước. Vai diễn này đã mang lại cho nghệ sĩ Giải thưởng quốc gia Liên Xô năm 1970.

Các vai diễn trong phim của đạo diễn Sergei Soloviev đã bổ sung thêm vào bảng màu diễn xuất của Tikhonov một vài màu sắc bất ngờ mới (ví dụ, sự tự mỉa mai) – phim “Hạnh phúc gia đình (Семейное счастье – dựa theo tác phẩm “Nhàn cư” “От нечего делать”, 1969) và “Egor Bulychev và những người khác (Егор Булычев и другие, 1971). Vyacheslav Tikhonov bước vào giai đoạn phát triển tài năng rực rỡ nhất. Và trong bộ phim truyền hình “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân” (Семнадцать мгновений весны, 1973) của đạo diễn Tatiana Lioznova, Tikhonov đã đóng vai diễn “ngôi sao” nhất của mình – Isaev-Stirlitz. Thành công của vai diễn này đã đem lại cho Tikhonov sự nổi tiếng chưa từng có (và năm 1976 thì cả Giải thưởng Quốc gia CH LB XHCN Nga): đó là thắng lợi huy hoàng thực sự.

Vyacheslav Tikhonov đã tạo ra một tính cách phức tạp, nhưng đó là tính cách sống, nhân vật Stirlitz của ông thu hút sự chú ý của khán giả trong từng phút tồn tại trên màn ảnh. Trong vai diễn này Tikhonov đã vận dụng toàn bộ các phương tiện diễn xuất của mình: khả năng “giữ” các cận cảnh, khắc họa cuộc sống nội tâm đầy ắp của nhân vật, sự chính xác và cô đọng của từng cử chỉ, điệu mặt, tâm lý tinh tế, và diễn xuất trên những ngụ ý, những sự thay đổi tinh tế của trạng thái, sự hiểu biết sâu sắc đặc điểm công việc của diễn viên trong điện ảnh. Chủ đề nội tâm của nghệ sĩ trong vai diễn này đã nhận được sự thể hiện trọn vẹn, bởi vì nhân vật đã thể hiện được “sự hai mặt”, các tính chất ẩn giấu của tính cách không chỉ một lần như trong các phim trước, mà là thường xuyên. Nhưng đó chưa phải là thành công lớn nhất trong diễn xuất của Tikhonov. Nếu như thời gian điện ảnh và không gian tổ quốc của đại tá Isaev đã hoàn toàn loại trừ khả năng tồn tại trọn vẹn đầy sự sống của Isaev, thì Standartenführer SS Stirlitz lại là một nhân vật khẳng định sự tồn tại , bởi vì trong vai diễn này đại tá Isaev đã sống cuộc sống không phải của mình, một cuộc sống khác gần như bị cấm. Có thể nói rằng Tikhonov và Lioznova đã dường như “kéo dài” nội dung của các bộ phim cuối những năm 1940 như “Đội cận vệ thanh niên” và “Chiến công người lính trinh sát”, họ đã đem lại cho chủ đề cuộc đấu tranh bí mật (bất hợp pháp hoặc tình báo) với bọn phát xít sự kết thúc đầy đủ của thể loại.


Cảnh trong phim “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân“

Trong sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của mình, Tikhonov còn quay trở lại với chủ đề Chiến tranh giữ nước vĩ đại không chỉ một lần: trong bộ ba phim “Mặt trận không có tả hữu dực” (1974), “Mặt trận sau đường chiến tuyến” (1971), “Mặt trận trong hậu phương kẻ thù” (1981) (Фронт без флангов», «Фронт за линией фронта», «Фронт в тылу врага» của đạo diễn I.A.Gostev; trong các bộ phim “Họ chiến đấu vì tổ quốc” (Они сражались за Родину, 1975) của đạo diễn S.F.Bondarchuk).

Năm 1977 Tikhonov thay đổi một chút hướng tìm tòi sáng tạo chính của mình, khi đóng vai chính trong bộ phim “Bim trắng Tai đen” (Белый Бим Черное ухо) của đạo diễn S. I. Rostotsky. Ivan Ivanovich được thể hiện như một nhân vật nguyên vẹn đến nỗi ông đã không cần thiết phải chứng minh điều gì nữa. Vai diễn này đã đem lại giải thưởng Lenin cho nghệ sĩ vào năm 1980, và có lẽ vai diễn này đã trở thành một chiếc âm thoa đặc trưng trong mối quan hệ của Tikhonov với các nhân vật mà sau này ông đóng vai trong các phim “TASS được quyền tuyên bố (ТАСС уполномочен заявить…, 1984) của đạo diễn V.P.Fokin, “Câu chuyện châu Âu” (Европейская история, 1984) của đạo diễn I.A.Gostev, “Giết rồng” (Убить дракона, 1988) của đạo diễn M.A.Zakharov, “Những con quỷ” (Бесы, 1992) của đạo diễn I.V. Talankin, D.I. Talankin, “Bị mệt mỏi bởi mặt trời” (Утомленные солнцем, 1994) của đạo diễn N.S.Mikhalkov và các phim khác.

Ngoài các phim trên, V.V.Tikhonov còn đóng nhiều vai lớn nhỏ trong điện ảnh và truyền hình như “Trong những ngày thanh bình” (В мирные дни, 1950), “Maksimka” (Максимка, 1952), “Trái tim lại đập” (Сердце бьется вновь, 1956), “Vòng quay ngựa gỗ” (Карусель, 1970), “Người từ phía khác” (Человек с другой стороны, 1971), “Chuyện về trái tim con người” (Повесть о человеческом сердце, 1975), “…Và những gương mặt chính thống khác” (… И другие официальные лица, 1976), “Nghỉ phép bằng tiền riêng” (Отпуск за свой счет, 1981), “Những ai chỉ yêu một người” (Однолюбы, 1982), “Kháng cáo” (Апелляция, 1987), “Tình yêu với những ưu tiên” (Любовь с привилегиями, 1989), “Những bóng ma của căn phòng xanh” (Призраки зеленой комнаты, 1991), “Luật mất danh dự” (Кодекс бесчестия, 1993), “Không thể sánh bằng” (Несравненная, 1993), “Buổi benefice tỉnh lẻ” (Провинциальный бенефис, 1993), “Mối tình đường phố” (Бульварный роман, 1994), “Mạo hiểm” (Авантюра, 1995), “Phòng đợi” (Зал ожидания, phim truyền hình nhiều tập, 1995), “Bạn yêu mến của những năm tháng đã quên…” (Милый друг давно забытых лет…, 1996), “Bài luận cho Ngày Chiến thắng” (Сочинение ко Дню Победы, 1997).

Vyacheslav Tikhonov được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô (1974), Anh hùng lao động Xã hội chủ nghĩa (1982), ông cũng được nhận Giải thưởng Quốc gia Lenin, Giải thưởng Quốc gia CH XHCN LB Nga. Ông được tặng huân chương Lenin, huân chương Cách mạng tháng Mười, “Huân chương Danh dự”, “Vì các đóng góp cho Tổ quốc” hạng III. Năm 1993 tại Liên hoan phim quốc tế các dân tộc Slavơ và Chính thống giáo “Dũng sĩ vàng” ông được tặng giải thưởng vì đóng góp cho điện ảnh Sla-vơ.

Năm 2003 Tikhonov được tặng giải thưởng “Đỉnh Olympos dân tộc Nga” trong mục đề cử “Huyền thoại”.

Bộ phim tài liệu của đạo diễn S.Rostotsky “Nghề nghiệp – diễn viên điện ảnh” là bộ phim nói về Tikhonov.

Nhân dịp Tikhonov tròn 75 tuổi, bộ phim tài liệu “17 khoảnh khắc vinh quang” (17 мгновений Славы – chơi chữ, Слава vừa là tên than mật của Tikhonov, vừa có nghĩa là vinh quang). Nhà sản xuất bộ phim là Anna Tikhonova, con gái của ông.

Vyacheslav Tikhonov qua đời ngày 04/12/2009 thọ 82 tuổi. Cả Moskva đã đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Novodevichi trong nền nhạc của “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân”

Olga Leonardovna Knipper – Chekhova “Ngôi đền yêu quý”

Bài này Nina dịch đã lâu rồi nhưng hình như chưa bao giờ giới thiệu ở blog…

Olga Leonardovna Knipper – Chekhova “Ngôi đền yêu quý”
Tác giả: Vitaly Vulf (http://www.v-vulf.ru/officiel/officiel-38-1.htm)

offi-38-1

Olga Leonardovna Knipper – Chekhova năm 1904

Tên của Olga Leonardovna Knipper luôn gắn với hai sự kiện quan trọng bậc nhất của văn hóa Nga: Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva và Anton Pavlovich Chekhov. Bà đã gắn bó với Nhà hát Nghệ thuật gần như cả cuộc đời dài của mình, từ lúc nhà hát thành lập cho đến lúc gần qua đời. Còn với Chekhov thì chỉ gắn bó có 6 năm thôi – nhưng bà gọi đó là “quãng thời gian tươi sáng nhất” của đời mình. Đó là những năm cuối cùng của Chekhov cho tới khi ông qua đời trên tay bà.

Cuộc đời dài và đầy sôi động của bà kéo dài 91 năm. Olga Leonardovna sinh năm 1868 ở vùng Viatskaya. Bố của Olga Leonardovna là một kỹ sư công nghệ người Đức vùng Aldass, khi đó ông làm quản đốc của nhà máy. Người mẹ, Anna Ivanovna Zalts là một nhạc công rất có tài, bà chơi piano rất hay và có một giọng hát xuất sắc. Nhưng chồng bà không cho phép bà đi theo con đường sân khấu, cũng như đi học nhạc viện. Và khi đó thì cuộc đời của Anna Ivanovna được dâng hiến hoàn toàn cho gia đình – hai cậu con trai Konstantin và Vladimir và cô con gái Olga. Năm 1870 thì gia đình chuyển đến sống tại Matxcơva, và Olga Leonardovna đã sống cả đời mình tại thành phố này.

Cô bé Olga luôn luôn muốn trở thành nghệ sĩ. Khi mà những đứa trẻ còn bé, thì hàng năm gia đình Knipper luôn luôn tổ chức biểu diễn những vở kịch cho những khán giả là gia đình và những người quen. Họ tự may trang phục biểu diễn, tự vẽ cảnh dàn dựng… Nhưng bây giờ, khi cô con gái đã lớn lên và mong muốn gắn bó cuộc đời mình với sàn diễn một cách nghiêm túc thì ông bố cấm tuyệt không cho nghĩ đến chuyện đó. Ông muốn con gái trở thành một nữ họa sĩ (thậm chí người bố còn cho họa sĩ nổi tiếng Vladimir Makovsky, gia đình họ quen thân nhau), hoặc là một nữ phiên dịch – từ nhỏ Olga đã học ngoại ngữ và dịch nhiều. Olga sử dụng thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức.

Nhưng tình hình đã thay đổi sau cái chết của người cha. Điều kiện vật chất của gia đình xấu đi rất nhanh, cần phải kiếm tiền. Để tiết kiệm họ chuyển đến sống chung với anh em của bà Anna Ivanovna – Karl và Alekxandr (một người là bác sĩ, người kia là quân nhân) và kiếm sống bằng nghề dạy học. Bà Anna Ivanovna thì dạy hát (sau này bà trở thành giáo sư thanh nhạc tại trường học của trung cấp âm nhạc). Vladimir lúc đó là sinh viên thì kiếm thêm bằng nghề gia sư, còn Olga thì dạy nhạc. Konstantin, cậu con trai lớn, lúc đó đang làm kỹ sư và phục vụ ở Kavkaz.

Nhưng Olga vẫn luôn luôn mơ về sân khấu. Sau cái chết của người cha thì gia đình Knipper sống hai mùa hè ở vùng Zavod Polotnhannưi – điền trang của dòng họ Gontrarov. Một trong những thành viên của dòng họ này là bà vợ của A.S.Pushkin – bà Natalia Nhicolaevna. Những thanh niên trẻ tuổi tụ họp ở Zavod Polotnhannưi đã được hình bóng của nhà thơ vĩ đại truyền cảm hứng, và họ đề nghị những chủ nhân ở đây cho phép họ sử dụng không gian của một quán rượu cũ – tương truyền là xưa kia Pushkin hay tới đó. Trong ngôi nhà này họ đã tổ chức một nhà hát ngẫu hứng – họ dựng những vở kịch của Ostroevsky, những vở vodevil, tổ chức những buổi hòa nhạc… Tất cả những thứ đó đã thuyết phục Olga rằng con đường nàng chọn là đúng đắn. Và khi quay trở lại Matxcơva, Olga đã bí mật chuẩn bị thi vào trường đào tạo sân khấu thuộc nhà hát Malưi. Olga trúng tuyển và học ở đó một tháng rồi bị đuổi. Lý do chính thức là do không thi đạt một kỳ “kiểm tra”. Tuy nhiên sau đó thì hóa ra mọi chuyện đơn giản hơn nhiều. Trong số 4 nữ sinh của trường thì Olga Knipper là người duy nhất trúng tuyển mà không có ô dù che chở nào cả, và bây giờ thì chỗ của nàng lại cần cho một nữ sinh khác có một ô dù lớn.

offi-38-2

New York, 1923

Đối với Olga đó là một cú sốc. Nàng khóc mấy ngày liền. Và bà Anna Ivanovna, mặc dù trước đó vẫn phản đối lựa chọn sân khấu của con gái, nhưng khi thấy sự tuyệt vọng của Olga đã cố gắng nhờ người quen giúp đỡ để Olga được nhập học ở trường sân khấu ở Phiharmony, dẫu ở đó những kỳ thi tuyển đã chấm dứt trước đó cả tháng. Olga vào học lớp của Vladimir Ivanovich Nhemirovich-Đanchenko – điều này đã quyết định hết thảy số phận sau đó của nàng.

Nhemirovich-Đanchenko đã đánh giá được ngay tài năng của nữ nghệ sĩ tương lai, dành nhiều thời gian cho Olga. Có tin đồn là ông phải lòng Olga, nhưng nàng chỉ quan tâm đến sân khấu, còn sau giờ học thì lại hối hả chạy đi dạy để có tiền đóng học phí.

Cuối năm 1897 thì bắt đầu có những tin đồn mơ hồ về chuyện sắp tới sẽ thành lập một nhà hát kiểu mới khác thường nào đó. Người sẽ thành lập nhà hát này, Konstantin Sergeevich Stanislavsky, đến dự một buổi tập vở kịch “Cô chủ quán” của Carlo Goldoni – và tất cả các diễn viên đều biết rằng ông đang xem xem họ có phù hợp với nhà hát mới hay không. Trong vở này, Olga Knipper đóng vai Mirandolina – đầy nghị lực tuổi trẻ, năng động, rực rỡ… Một thời gian sau Nhemirovich-Đanchenko thông báo với Olga Knipper, Margarita Georghievna Savitskaya và Vsevolod Meierkhold rằng họ được nhận vào đoàn diễn viên của nhà hát mới.

Nhà hát Nghệ thuật chính thức được khai sinh ngày 14 lịch cũ, tức 26 tháng 7 năm 1898 tại vùng Pushkino ngoại ô Matxcơva, khi các thành viên của Hội nghệ thuật và văn học do K.S. Stanislavsky lãnh đạo liên kết với những diễn viên mới ra trường của trường sân khấu ở Phiharmony với người thầy của họ là V.I.Nhemirovich-Đanchenko. Những buổi tập đầu tiên của nhà hát cũng diễn ra ở Pushkino – những người quen của Stanislavsky cho họ mượn một nhà hát mùa hè vốn chỉ có sân khấu và một hàng ghế. Knipper tập vai sa hậu Irina trong vở kịch “Sa hoàng Fedor Ioannovich” của A.K.Tolstoi. Sau đó thì Nhà hát Nghệ thuật bắt đầu dựng vở “Hải âu” của A.P.Chekhov.

Tới khi đó thì Chekhov đã trở thành thần tượng của giới trí thức Nga. Những truyện ngắn của ông được biết đến ở khắp nước Nga. Hồi đó các sinh viên luôn luôn đem theo tập truyện ngắn của Chekhov. Nhưng tài năng soạn kịch của ông thì vẫn còn đang bị ngờ vực. Vở kịch đầu tiên của ông “Ivanov” khi dàn dựng ở Matxcơva đã gây nên một xì căng đan, rồi sau đó thì lần trình diễn đầu tiên vở “Hải âu” ở nhà hát Alekxandrinsky ở Peterburg cũng thất bại thảm hại.

Tại nhà hát Alekxandrinsky người ta dàn dựng vở “Hải âu” vào benefice của nữ nghệ sĩ hài kịch nổi tiếng Elizaveta Ivanovna Levkeeva, và mọi người cho rằng đó sẽ là một hài kịch. Những cố gắng của Chekhov giải thích ý nghĩa của vở kịch cho các diễn viên chẳng đem lại kết quả gì – chẳng ai muốn nghe ông cả. Do đó xì căng đan đã phát sinh từ ngay đầu vở kịch và tiếp tục đến tận cuối vở kịch. Chekhov trốn khỏi nhà hát, và đến sáng không ai tìm gặp được ông cả.

Khi được tin là Stanislavsky định dựng vở “Hải âu” thì Maria Pavlovna, em của A.P.Chekhov đến Pushkino để tìm hiểu những ai định sắm vai trong vở kịch này. Maria Pavlovna rất sợ rằng lần dàn dựng mới này sẽ chỉ đem lại những đau khổ mới cho ông anh trai mà bà rất yêu quý và đã dành trọn cuộc đời cho anh.

 offi-38-31

1886-1887

Và rồi chính Chekhov cũng đến xem những buổi diễn tập “Hải âu”. Olga Leonardovna nhớ mãi ngày hôm đó – ngày 9 tháng 9 năm 1898, ngày mà lần đầu tiên nàng gặp Anton Pavlovich. Hôm trước Nhemirovich-Đanchenko đã cho nàng biết là Chekhov sẽ có mặt tại buổi tập này. Olga gần như bay tới Câu lạc bộ Okhotnhichi, nơi họ diễn tập, do tòa nhà chính của nhà hát vẫn chưa xây xong vì biết rằng chỉ ít phút nữa nàng sẽ gặp một nhà văn được cả nước Nga yêu mến. Chekhov xem họ diễn tập và nói chuyện với các diễn viên… Và ông rất băn khoăn khi ra về – Stanislavsky không hiểu vở kịch, các diễn viên không nghe những lời giải thích của tác giả, và họ tập tành vẫn chưa ăn ý với nhau. May mà có Nhemirovich-Đanchenko, người rất yêu mến và am hiểu nghệ thuật kịch của Chekhov, và các diễn viên rất nhiệt tình, nhờ đó mà vở kịch đã được trình diễn.

Chekhov để ý đến Olga Knipper tại buổi trình diễn đầu tiên của vở kịch đầu tiên của Nhà hát Nghệ thuật – vở kịch “Sa hoàng Fedor Ioannovich”, trong đó nàng đóng vai sa hậu Irina. Ông rất thích khuôn mặt, giọng nói và vẻ uy nghi đường bệ của nàng trong vai này, và thông báo với tất cả mọi người về điều đó. Ngày hôm sau Chekhov quay về Yanta.

Theo những người cùng thời, điều có thể nhận thấy đầu tiên trong diễn xuất của Knipper là sự quyến rũ sân khấu không thể cưỡng nổi và sự chân thành của nàng. Dường như không phải là nàng diễn trên sân khấu mà là nàng sống trên đó – Stanislavsky đã dạy các học trò của mình như thế. Một người phụ nữ có học thức, trí thức, khiêm tốn và có óc hài hước rất tinh tế và vẻ ngoài quyến rũ – nàng luôn luôn được mọi người chú ý đến. Tuy nhiên cũng như tất cả các nữ diễn viên của Nhà hát Nghệ thuật, nàng không giống như các nữ diễn viên khác của thời đó. Khi mà Nhà hát Nghệ thuật đi lưu diễn ở Saint-Peterburg, suýt nữa thì những người đi đón đã không nhận ra họ – vì các diễn viên này chẳng giống gì với khuôn mẫu diễn viên thời đó. Các nữ diễn viên của Nhà hát Nghệ thuật luôn luôn ăn mặc rất nghiêm túc, thanh lịch và khiêm tốn – những bộ váy dài đơn giản, áo đầm kín đáo, những bộ đồ “kiểu Ăng lê” nghiêm túc, không bao giờ họ mặc những trang phục mốt của Paris, son phấn lòe loẹt…Olga Leonardovna có óc thẩm mỹ và cảm giác bố cục tuyệt vời, nội tâm sâu sắc và xử sự rất trí thức. Vadim Vasilievich Sverubovich, con trai của nghệ sĩ Nhà hát Nghệ thuật Vasily Ivanovich Kachalov, bạn tốt nhất của Olga hồi tưởng lại rằng vào tháng 2 năm 1920 thì Olga Knipper cùng Kachalov và các diễn viên đi lưu diễn ở Novorossisk. Chuyến đi rất mệt nhọc: gió, lạnh, tất cả đều chán nản và nhăn nhó… Nhưng Olga Leonardovna ngồi trên một chiếc va li ở giữa toa tàu – ngồi rất thẳng, bên cạnh là một chiếc khăn trải bàn trắng muốt trải trên một chiếc va li khác, còn trên khăn là một cái giá cắm nến bằng sứ và nến cùng một quyển sách đóng bìa lụa. Xung quanh là sự nhơ bẩn, tiếng súng nổ cùng những tiếng chửi rủa, nhưng Olga khoác một chiếc khăn choàng Orenburg trắng như tuyết, y như trong một khách sạn sang trọng, và ngồi đọc …

offi-38-4

Tại nhà nghỉ ngoại ô đầu những năm 1900

Buổi diễn ra mắt của “Hải âu” tại Nhà hát Nghệ thuật là vào ngày 17 tháng 12 năm 1898. Hai hồi đầu diễn ra trong sự im lặng tuyệt đối của khán phòng – khán giả đang băn khoăn cao độ. Tất cả đều không quen thuộc – cả vở kịch lẫn diễn xuất và bài trí sân khấu. Nhưng khi hồi ba kết thúc thì khán phòng hoàn toàn bị thuyết phục. Cả vở kịch lẫn tài soạn kịch của Chekhov đều được phục hồi thanh danh.

Trong vở kịch “Hải âu” Knipper đóng vai Arkadina, một nữ nghệ sĩ đang trở về già nhưng vẫn không muốn nhận thấy sự đến gần của tuổi già. Mà lúc đó Olga Knipper mới có 30 tuổi! Nhưng những gì mà Knipper đã diễn xuất – không phải tuổi già, mà chính là sự già đi – làm cho khán giả không thể quên được. Trong buổi công diễn ra mắt thì Knipper bị ốm, nhưng nàng đã diễn với thân nhiệt 39°C, và sau hôm đó thì phải nghỉ mấy ngày mới đi lại được.

Còn Chekhov lúc đó ở Yanta. Đầu tiên ông nhận được những bức điện chúc mừng, sau đó thì là tin hoãn vở kịch. Ông đã nghĩ rằng trận ốm của Knipper chỉ là cái cớ để không làm ông buồn về thất bại mới của “Hải âu”.

Mùa xuân năm 1899 Chekhov đến Matxcơva và đến Nhà hát Nghệ thuật xem trình diễn “Hải âu”. Đã lâu các diễn viên không trình diễn – trong thời kỳ Ăn chay lớn không thể trình diễn vở kịch nào, – sân khấu lạ, bài trí sân khấu cũng thế… Chekhov hoảng sợ. Stanislavsky cố gắng lắm mới làm cho ông bình tĩnh lại. Nhưng sau một thời gian Chekhov không những chấp nhận sự dàn dựng “Hải âu” này, mà còn đồng ý để Nhà hát Nghệ thuật dàn dựng “Chú Vanhia” – vở kịch mới của ông.

Có một lần sau vở kịch thì một người bạn của Olga ghé thăm nàng sau cánh gà. Đó là diễn viên Nhà hát Nghệ thuật Alekxandr Leonhidovich Vishnhevsky, và dẫn theo Maria Pavlovna, em gái của Chekhov. Maria mời Knipper tới thăm Melikhovo, nơi gia đình Chekhov đang sống lúc đó, và Olga đã ở đó ba ngày. Sau đó thì chính Anton Pavlovich cũng tới thăm Olga – mặc dù ông là một người rất ít khi đi thăm người khác. Sau đó họ cùng đi xem triển lãm của Levitan – bạn của Anton Chekhov và gần như là chồng chưa cưới của Maria Pavlovna, em gái Chekhov (Maria từ chối lấy Levitan mặc dù họ rất yêu nhau, vì không muốn bỏ rơi anh trai). Mùa hè, khi Olga đi nghỉ ở Kavkaz thì họ bắt đầu viết thư trao đổi. Và họ còn tiếp tục viết thư cho nhau đến tận khi Chekhov qua đời.

Tới lúc bấy giờ thì bệnh lao của Chekhov đã có những dấu hiệu rõ ràng, và ông buộc phải sống một thời gian dài ở Yanta – và không thể ở lại Matxcơva lâu được. Còn Olga Leonardovna thì phải luôn luôn ở tại Matxcơva – nàng không thể rời bỏ Nhà hát Nghệ thuật được. Và mối tình của họ, cũng như cuộc sống gia đình của họ chủ yếu là những bức thư.

Tháng 7 năm 1899 nàng đến thăm ông ở Yanta, rồi tháng 8 thì họ cùng đi từ Yanta đến Matxcơva. Sau đó ít lâu thì ông lại quay trở về Yanta, và họ lại tiếp tục viết thư…

Cuối tháng ba năm 1900 đoàn diễn viên của Nhà hát đi lưu diễn ở Crưm, và họ có thể ở bên nhau được mấy ngày. Sau đó là cuộc gặp gỡ tình cờ trên chuyến tàu Tiphlis – Matxcơva: Olga Leonardovna cùng mẹ đi Bergiôm, còn Chekhov thì đi cùng với bạn bè – Gorky, Vasnhetxov và bác sĩ Alekxin đến Batum. Tháng bảy – lại là chuyến đi đến Yanta, rồi sau đó lại là những bức thư.

Mùa thu năm ấy Chekhov tới Matxcơva để giới thiệu với đoàn diễn viên vở kịch mới của mình – “Ba chị em”. Các diễn viên không chấp nhận vở kịch. Đâu đó có những tiếng nói: “Đó không phải là vở kịch, mà chỉ là sơ đồ…” “Không thể diễn trong cái này được!” “Chẳng có vai diễn gì cả, mà chỉ là những sơ đồ nào đó”. Chekhov lúng túng ngồi bên bàn. May mà có Nhemirovich-Đanchenko, ông đứng dậy và nói lớn “Anton Pavlovich, cám ơn ông, chúng tôi sẽ diễn vở này”. Tình hình đã được cứu vãn.

offi-38-5
1910 – 1911

Knipper đóng vai Masa. Bạn diễn của nàng là Stanislavsky đóng vai Vershinin. Nói chung Konstantin Sergeievich rất thích đóng cặp với Knipper. Trước cảnh Masa và Vershinin chia tay, Olga ngồi một lúc lâu trong phòng hóa trang, và khi bước ra sân khấu, nàng cầu nguyện mong sao không gặp ai trước khi ra sân khấu, để cho không ai có thể làm đổ tình yêu và nỗi buồn mà nàng mang trong mình. Khán giả khóc cùng với nàng, họ không hiểu là nàng không diễn, mà sống trên sân khấu, cảm thấy trong mình tình yêu đối với một người mà không thể bên nhau – như Masa và Vershinin.

Olga suy nghĩ rất lâu, nàng có thể gắn bó cuộc đời mình với Chekhov hay không, nàng có quyền làm thế hay không. Nàng – một nữ diễn viên, không thể hình dung cuộc sống của mình thiếu sân khấu, và ông, một nhà văn vĩ đại, nhưng buộc phải sống xa nàng, xa Matxcơva mà ông yêu quý vì bệnh tật. Nhưng cuối cùng thì nàng cũng quyết định.

Giữa tháng 5 năm 1901 Anton Pavlovich đến Matxcơva, và ngày 25 tháng 5 họ kết hôn. Gia đình ông chỉ biết chuyện từ những trang báo. Thậm chí Ivan, em của Chekhov, mặc dù gặp ông chỉ 1 giờ trước đám cưới, cũng chỉ biết về điều đã xảy ra khi mọi chuyện đã xong. Chỉ có Maria Pavlovna, Stanislavsky và Nhemirovich-Đanchenko là biết rõ mọi chuyện từ trước.

Ngay sau đám cưới thì hai vợ chồng đến nhà nghỉ Andreev ở gần Upha, rồi sau đó tới Yanta. Đến 20 tháng 8 thì Olga quay về Matxcơva.

Người ta thường kết tội Olga rằng nàng không chú ý đến Chekhov, bỏ ông một mình ở Yanta, rằng nàng không phải là người vợ mà ông, một nhà văn vĩ đại cần có. Nhưng khi đó nàng đã luôn luôn đau khổ vì điều này, luôn luôn trăn trở giữa ý muốn ở bên cạnh chồng và ý muốn được diễn xuất. Nàng hiểu, và Chekhov cũng nhiều lần viết cho nàng về điều này – rằng ông không muốn có một người vợ đơn giản là một bà nội trợ, không tham gia gì vào cuộc sống xã hội. Ông yêu nàng chính vì nàng là một người trung thành với nhà hát, và không thể chấp nhận sự hy sinh của nàng, nếu nàng bỏ rơi công việc của đời mình. Trước khi cưới, ngày 27 tháng 9 năm 1900 ông viết cho nàng “… anh không biết nói gì với em, ngoại trừ một điều thôi, điều mà anh đã nói với em 10000 lần rồi, và chắc là sẽ còn nói rất lâu, rằng anh yêu em – và chỉ có thế thôi. Nếu như bây giờ chúng ta không thể ở bên nhau, thì không phải lỗi của anh, cũng không phải lỗi của em, mà là của con quỷ đã để vi trùng lao cho anh và tình yêu nghệ thuật cho em”.

offi-38-6

1919

Thậm chí ngay cả khi luôn luôn cách xa nhau, họ vẫn cảm thấy đang sống một cuộc sống một cuộc sống gia đình thật sự. Họ rất muốn có con. Nhưng năm 1901 Olga Bị sẩy thai… Năm 1902 Knipper lại có thai, rất thận trọng và hồi hộp, muốn sinh cho Chekhov một đứa con “một nửa người Đức”, như ông vẫn đề nghị một cách đùa nghịch trong thư… Nhưng tai họa xảy đến. Trong một vở kịch các nhân viên không mở … đúng lúc, và nàng bị ngã từ độ cao vài mét. Nàng không thể có con được nữa. Nàng lại thử đi khỏi nhà hát, nhưng các giám đốc và Anton Pavlovich đều phản đối kịch liệt. Và cuộc sống của họ cứ tiếp tục như thế – những khoảng thời gian bên nhau ngắn ngủi, những bức thư tới tấp những lúc xa nhau. Chỉ có mùa đông 1903-1904 các bác sĩ có thể cho phép Chekhov sống ở Matxcơva., và ông rất sung sướng vì được sống trong thành phố mà ông xiết bao yêu mến, cùng với vợ, và tự mình tham gia vào quá trình dàn dựng vở kịch mới của ông “Vườn anh đào”…

Vở kịch được công diễn lần đầu tiên vào ngày 17 tháng 1 năm 1904, vào ngày sinh nhật của ông. Vì thế, tất cả mọi người đều chờ đợi rằng khán giả sẽ đến rất đông, dư luận báo chí sẽ chú ý đến vở kịch. Chekhov rất hồi hộp, mãi người ta mới thuyết phục được ông đến nhà hát. Buổi biểu diễn thành công rực rỡ, nhưng tất cả đều cảm thấy có điều gì đó không ổn, có cái gì đó đang lơ lửng trong không khí.

Trong vở kịch này Olga Leonardovna Knipper đóng vai Ranhevskaya – và nàng sẽ còn đóng vai này cho tới gần lúc rời sân khấu. Đó không chỉ là vai diễn yêu thích nhất, mà còn là vai diễn thân thuộc nhất của nàng. Trong vai diễn này nàng chia tay vĩnh viễn với tuổi trẻ của mình, với cuộc đời đi ngang bên cạnh, với tình yêu đã mãi mãi đi vào quá khứ…Đã từ lâu nàng không còn cần phải tương xứng với tuổi tác mà Chekhov vẽ cho Ranhevskaya, nhưng tâm hồn nàng, tâm hồn nữ nghệ sĩ của Chekhov vẫn còn tiếp tục sống trong nàng, và thoát ra ngoài trong mỗi lời nói của vai diễn tuyệt vời ấy.

Sau buổi trình diễn đầu tiên ấy Chekhov lại quay về Yanta, và mãi đến cuối tháng 4 ông mới quay lại Matxcơva. Và ngay lập tức bệnh ông nặng lên. Các bác sĩ khuyên ông đi tới Badenweiler, nơi an dưỡng chữa bệnh phổi. Tháng 6 năm đó Anton Pavlovich và Olga Leonardovna đi tới Berlin rồi tới Badenweiler. Nhưng đêm mùng một rạng ngày mùng 2 tháng 7 bỗng dưng bệnh ông nặng lên đột ngột. Ông yêu cầu gọi bác sĩ, điều mà trước đây chưa bao giờ làm. Khi bác sĩ đến Chekhov ngồi dậy và bỗng dưng nói với bác sĩ “Ich sterbe” – “Tôi đang chết đây”. Bác sĩ cố gắng an ủi ông, yêu cầu đem đến một chai sâm panh. Chekhov cầm lấy ly, cười với Olga và nói “Lâu lắm rồi anh không uống sâm panh”. Ông uống cạn ly, nằm nghiêng xuống, và Olga chỉ kịp chạy đến cúi người xuống gần ông, – thì ông đã ngừng thở.

offi-38-7

Những năm 1900

Nhờ có Vladimir Eikhler, Bộ trưởng – đại sứ Nga ở triều đình Baden mà thi thể Chekhov được đưa về Matxcơva không gặp trở ngại gì. Nhưng để có thể vận chuyển thì Olga phải sử dụng một toa lạnh mà trước đó thường sử dụng để vận chuyển sò tươi. Giới phê bình văn học khi đó đã không ngần ngại gán cho chuyện đó một ý nghĩa biểu tượng – cả đời Chekhov đấu tranh chống lại sự thô lỗ, còn sau khi chết thì trở thành nạn nhân của sự thô lỗ … Và tất cả đều kết tội Olga trong mọi chuyện.

Còn chính bản thân Olga, thì rất lâu sau vẫn chưa bình tĩnh lại được. Vẫn tiếp tục viết thư cho Anton Pavlovich – người đã chết – những bức thư, trong đó kể lại, nàng đã thử sống không có ông như thế nào, rằng mọi nơi nàng đều thấy hình bóng của ông, rằng những hồi tưởng luôn quẩn quanh bên nàng …

Họ chôn Anton Pavlovich Chekhov ở nghĩa địa Novodevichee ở Matxcơva, bên cạnh cha của ông. Hàng ngàn người đến dự lễ an táng, cả những người em trai của ông cũng vất vả lắm mới đến được bên quan tài. Trên mộ của ông là đài kỷ niệm – công trình của Fedor Shekhtel – người đã tạo biểu tượng Hải âu cho Nhà hát Nghệ thuật, mà đến bây giờ cũng vẫn còn là biểu tượng của nhà hát

Năm 1946 Olga viết thư cho Ada Konstantinovna, cháu gái của mình ở Berlin: “Cháu viết về quan hệ giữa cô và Anton Pavlovich. Đúng thế, sáu năm mà cô biết đến ông, là sáu năm đau khổ, đầy …. Vì cuộc sống như thế. Nhưng dù sao, thì sáu năm ấy cũng đầy ý nghĩa, đầy thú vị tràn trề, đến nỗi tưởng như đó là sắc đẹp của cuộc sống. Cô đâu phải là một đứa bé mê say ông, còn ông đối với cô cũng đâu chỉ là một người đàn ông bình thường – cô say đắm con người kỳ lạ ấy, bản sắc của ông, nội tâm của ông – ôi, thật khó mà viết tất cả những điều đó… Sáu năm khổ sở ấy còn lại đối với cô là ánh sáng và sự thật và cái đẹp của cuộc đời…”

Và nhà hát trở thành tình yêu chân chính duy nhất của Olga sau cái chết của Chekhov. Olga đã đóng tất cả những vai tuyệt nhất của mình – Sarra trong “Ivanov” (đây là vở kịch duy nhất của Chekhov mà không được dàn dựng ở Nhà hát Nghệ thuật khi tác giả còn sống, vở kịch được trình diễn gần như sau cái chết của ông), Anna Andreevna trong “Quan thanh tra” của Gogol, Natalia Pavlovna trong “Một tháng ở nông thôn” của Turghenhev, Gertruda trong “Hamlet” của Shakespeare, vai Naxchia nổi tiếng của mình trong vở “Dưới đáy” của Gorky, frau Gile trong vở kịch “Trong móng vuốt cuộc đời” của K.Gamsun… Olga đã truyền bá tình yêu sân khấu, tình yêu nghệ thuật đến những người thân của mình – người cháu Lev Konstantinovich Knipper trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng (người ta vẫn còn nhớ bài hát “Poliusko – Pole”, một phần trong bản Symphony số 5 của ông). Cậu em trai Vladimir thì lấy nghệ danh Nard và trở thành ca sĩ trên sân khấu Nhà hát lớn, rồi sau đó trở thành đạo diễn. Cháu của Chekhov, Mikhail Alekxandrovich nhờ sự giới thiệt của Olga đã trúng tuyển vào Nhà hát Nghệ thuật, người mà sau này được thế giới biết đến như một nghệ sĩ sân khấu Nga thiên tài. Năm 1928 Mikhail Alekxandrovich Chekhov sang phương tây, và vào những năm 40 thì thành lập trường nghệ thuật sân khấu của riêng mình. Ngày nay vẫn còn nhiều diễn viên ngôi sao của phương tây học diễn “theo Mikhail Chekhov”. Mikhail phải lòng cô cháu gái của Olga Leonardovna – Olga Konstantinovna, một cô gái nhan sắc hiếm có, lúc đó đang học vẽ và nặn tượng ở họa sĩ Konstantin Juon, – và năm 1914 họ đã bí mật kết hôn. Lúc đó cô dâu mới 17 tuổi, còn chú rể thì 23. Một năm sau họ có một cô con gái, cũng tên là Olga. Vài năm sau thì họ ly dị, và Olga Konstantinovna tới Đức sống. Ở đó cô đã trở thành một ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất, báo chí gọi cô là diễn viên yêu quý của Hitler. Có những tư liệu rằng cô là điệp viên của tình báo Nga và đã chuẩn bị tham gia ám sát Hitler. Trước chiến tranh cô lấy một triệu phú Bỉ, nhưng sau đó lại chia tay – cô chán khi ở bên chồng. Tới những năm 50, khi từ giã điện ảnh thì cô bắt tay thành lập hãng “Mỹ phẩm Olga Chekhova”.

offi-38-8

1911

Olga Leonardovna giữ cái họ Knipper – họ thời con gái của mình rất lâu. Phần thứ hai tiếp sau của họ xuất hiện khá là tình cờ. Sau Cách mạng tháng Mười một nhóm các nghệ sĩ của Nhà hát Nghệ thuật do Vasily Ivanovich Kachalov chỉ đạo rời Matxcơva đói khát đi lưu diễn ở phía nam. Knipper cũng ở trong nhóm này. Họ mắc kẹt ở Grudia, đến Kharkov rồi lên tàu đi ra nước ngoài. Họ trình diễn ở Bungari, Nam Tư… Nhưng ở Zagreb thì tình trạng của cả nhóm rất tồi tệ. Trong lúc ấy không hiểu ai đã khuyên Kachalov đề lên tấm áp phích – trong nhóm có Knipper-Chekhova trình diễn, vì tên của Chekhov sẽ kéo khán giả đến xem kịch. Và thế là Knipper trở thành Knipper-Chekhova.

Nhưng Olga Leonardovna không bao giờ nhấn mạnh rằng mình là người vợ góa của Chekhov. Olga không cho rằng đó là công lao của mình, và không muốn người ta quá chú ý đến bản thân mình. Olga Leonardovna là một người rất tế nhị và có óc thẩm mỹ tinh tế, một người lịch lãm và rất thu hút, quyến rũ – Olga có thể tạo ra quanh mình một bầu không khí đặc biệt – bầu không khí của thanh lịch, tinh tế, chân thực và điềm tĩnh. Thậm chí trong những năm tháng nặng nề nhất – cách mạng, loạn lạc, chiến tranh thì trong nhà của Olga lúc nào cũng rất tươm tất và đầm ấm. Trong Nhà hát Nghệ thuật người ta thường gọi sau lưng Olga là “Quận chúa của chúng ta”. Olga Leonardovna kết bạn với Blok, Rakhmanhinov, người rất yêu quý Olga, quen biết với tất cả những người xuất chúng trong thời đại mình.

Khi đã không còn trẻ nữa thì Olga Leonardovna lại yêu một thanh niên trẻ tuổi đẹp trai – nhà văn Nhicolai Đmitrievich Volkov, tác giả của bộ tiểu sử Meierkhold đầu tiên và chuyển thể tiểu thuyết “Anna Karenina” của Lev Tolstoi trên sân khấu của Nhà hát Nghệ thuật với lần trình diễn đầu tiên năm 1937 đã trở thành truyền thuyết. Chàng trẻ hơn Olga tới ba mươi tuổi. Họ cùng sống với nhau ở biệt thự Gurzuf, biệt thự nhỏ mà Chekhov đã cho Olga thừa kế. Natalia Aleksandrovna, con gái của diễn viên Nhà hát Nghệ thuật A.L.Vishnhevsky, trong một cuộc nói chuyện riêng tại đám tang của Olga Leonardovna có thừa nhận rằng trước khi gặp Chekhov thì có một thời gian Knipper và A.L.Vishnhevsky yêu nhau. Nhưng dù sao đi nữa thì Chekhov vẫn là tình yêu lớn nhất trong cuộc đời của Olga. Khi đã về già, có lần được hỏi, tại sao bà không lấy chồng sau khi Chekhov qua đời, thì Olga Leonardovna trả lời: “Tôi không thể hình dung được ai khác ở vị trí của Anton”.

offi-38-9

1905

Olga Leonardovna luôn luôn làm mọi người ngạc nhiên vì cách ăn mặc của mình, bà luôn luôn thanh lịch đến kinh ngạc. Thường thì bà thợ may nổi tiếng Nadezda Lamanova may trang phục cho Olga – đó là thợ may trang phục cho những người phụ nữ nổi tiếng nhất và thanh lịch nhất Matxcơva, là người cung cấp trang phục cho các vở kịch của Nhà hát Nghệ thuật. Trong thời gian Nhà hát Nghệ thuật lưu diễn hai năm ở Mỹ vào đầu những năm 20 Knipper diễn rất nhiều, làm phiên dịch cho Stanislavsky – ông không biết tiếng Anh, và trong các buổi biểu diễn còn đọc “Chuyện đùa” của Chekhov bằng tiếng Anh. Các nhà phê bình viết trên báo rằng bà quả phụ của Chekhov vĩ đại xứng đáng được gọi là người phụ nữ thanh lịch nhất thời đó.

offi-38-10

Olga Chekhova trên đi văng ở nhà. 1911 – 1912

Aleksandr Shirvindt – diễn viên, đạo diễn và …

Aleksandr Shirvindt

Aleksandr Shirvindt (1934 - )

Ngày 19/7/2009 Aleksandr Shirvindt, chỉ đạo nghệ thuật và đạo diễn chính của Nhà hát trào phúng Moskva tròn 75 tuổi.

Aleksandr Anatolievich Shirvindt sinh ngày 19/7/1934 ở Moskva. Mẹ ông, Raisa Samoilovna, thời trẻ là diễn viên Nhà hát Nghệ thuật Moskva, sau đó làm biên tập viên ở Phòng hòa nhạc Moskva. Cha ông là một nhạc công vĩ cầm trong dàn nhạc Nhà hát Lớn, sau đó giảng dạy ở trường nhạc.

Năm 1956 Aleksandr Shirvindt tốt nghiệp Trường sân khấu mang tên B.V.Schukin

Sau khi tốt nghiệp, Shirvindt được nhận vào đoàn kịch Nhà hát mang tên Komsomol Lenin (ngày nay là Nhà hát Lenkom). Tại đây Shirvindt đã tham gia các vở kịch “Quân đoàn kỵ binh thứ nhất” (Первая Конная) của Vsevolod Vishnevsky, “Tạm biệt, các cậu bé!” (До свидания, мальчики!) của Boris Balter, “Nữ thánh Joan” (Saint Joan) của Bernard Shaw, “Hải âu” (Чайка) của Anton Chekhov, “Molier” của Mikhail Bulgakov, “Ai có phận nấy” (Каждому свое) của Samuil Aleshin “104 trang về tình yêu” (104 страницы про любовь) và “Làm phim” (Снимается кино) của Eduard Radzinsky và các vở kịch khác.

Năm 1968 Aleksandr Shirvindt chuyển sang làm việc Nhà hát Kịch Moskva ở phố Malaya Bronnaya trong vòng hai năm. Trong thời gian này Shirvindt tham gia các vở kịch “Những ngày hạnh phúc của một người không hạnh phúc” (Счастливые дни несчастливого человека) của Aleksei Arbuzov, “Romeo và Juliet” và các vở khác.

Từ những năm sinh viên Aleksandr Shirvindt đã tham gia các buổi văn nghệ cây nhà lá vườn. Vào những năm 1960, Shirvindt cùng các đồng nghiệp của mình – cả trẻ lẫn già đã tạo nên một nhóm “cây nhà lá vườn”, nhóm này tổ chức các buổi “cây nhà lá vườn” nổi tiếng tại Nhà Văn hóa Sân khấu. Shirvindt cũng tham gia tổ chức và tiến hành các buổi diễn kỷ niệm của Rostislav Pliatt, Leonid Utesov.

Từ năm 1970 cho đến ngày nay Aleksandr Shirvindt làm việc tại Nhà hát trào phúng Moskva. Từ tháng12/2000 ông trở thành lãnh đạo nghệ thuật của nhà hát

Tại nhà hát này Shirvindt đã đóng hơn 30 vai diễn. Vai diễn đầu tiên của Shirvindt trong nhà hát này là bá tước Almaviva trong vở “Một ngày điên rồ, hay Đám cưới Figaro” của Beaumarchais (1970). Và vai diễn này là một trong những vai thành công nhất của Shirvindt.

Trong số các vở kịch khác có thể kể đến –“Điều kỳ diệu bình thường” của Evgeny Shvarts, “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol, “Con rận” của Vladimir Mayakovsky, “Khổ vì trí tuệ” của Aleksandr Griboedov, “Vở opera ba xu” của Bertolt Brecht, “Schastlivcev – Neschastlivcev” của Grigory Gorin, “Lời chào từ Cjurupa”của Fazil Iskander, “Andrjusha” của Arkady Arkanov, Aleksandr Shirvindt và những người khác.

Aleksandr Shirvindt cũng được biết đến như một đạo diễn sân khấu. Cùng với Andrei Mironov ông ra mắt khán giả với tư cách đạo diễn dàn dựng vở kịch “Những hài kịch nhỏ của một ngôi nhà lớn” của các tác giả Grigory Gorin và Arkady Arkanov trên sân khấu Nhà hát Trào phúng, cùng với Mark Zakharov dựng vở “Hãy tỉnh giấc và hãy hát”.

Aleksandr Shirvindt

Aleksandr Shirvindt (1934 - )

Shirvindt cũng được biết đến như tác giả, đồng tác giả kịch bản. Trong số các kịch bản này có những vở kịch viết cùng với Grigory Gorin: “Chúng tôi – 50” và “Concerto cho nhà hát và dàn nhạc” và các vở kịch của Shirvindt: “Hãy im lặng, nỗi buồn, hãy im lặng…”, “Spartak” (Mishulin) – “Khán giả”.

Aleksandr Shirvindt cũng là tác giả và đạo diễn dàn dựng các buổi diễn kỷ niệm các nghệ sĩ của Nhà hát Trào phúng, và các buổi biểu diễn kỷ niệm 60, 70, 75 và 80 năm thành lập Nhà hát Trào phúng Moskva

Trên sân khấu tạp kỹ Aleksandr Shirvindt có mặt trong vài vai trò: đạo diễn, người dẫn chương trình, tác giả và diễn viên. Shirvindt là tác giả của tiết mục nổi tiếng – duet của Avdotia Nikitichna (diễn viên Boris Vladimirov) và Veronika Mavrikievna (diễn viên Vadim Tonkov). Shirvindt cũng làm việc với nhiều nghệ sĩ khác như Tarapunka và Shtepsel, Mirov và Novitsky, Lev Shimelov, Vladimir Vinokur và các nghệ sĩ khác. Shirvindt viết các màn độc thoại cho nhiều nghệ sĩ (Vera Maretskaya, Mikhail Pugovkin, Vsevolod Sanaev và các nghệ sĩ khác), các màn độc thoại này được họ trình diễn trên sân khấu tạp kỹ. Trong nhiều năm, chính Shirvindt cũng trình diễn trên sân khấu tạp kỹ, và nổi tiếng cùng với người bạn diễn ăn ý Mikhail Derzhavin.

Aleksandr Shirvindt bắt đầu đóng phim từ năm 1957 trong bộ phim “Cô ấy yêu anh” (Она вас любит). Tuy nhiên Shirvindt thực sự được biết đến rộng rãi nhờ các vai diễn trong các bộ phim “Hãy tới vào ngày mai” (Приходите завтра, 1963), “Thêm một lần nữa về tình yêu” (Еще раз про любовь, 1968), “Số phận trớ trêu” (Ирония судьбы, или С легким паром!, 1975), “Những con én của trời” (Небесные ласточки, 1976), “Ba người trong một chiếc thuyền, không kể con chó” (Трое в лодке, не считая собаки, 1979), “Người bệnh tưởng” (Мнимый больной, 1980), “Buổi chiều mùa đông ở Gagry” (Зимний вечер в Гаграх, 1985), “Người phụ nữ quyến rũ và đáng yêu nhất” (Самая обаятельная и привлекательная, 1985), “Triệu bạc trong giỏ cưới” (Миллион в брачной корзине, 1986), “Giai điệu bị quên lãng cho sáo flute” (Забытая мелодия для флейты, 1987), “Anh chàng lăng nhăng” (Бабник, 1990), “Xin chào, những gã ngốc” (Привет, дуралеи!, 1996). Trong năm 2007 Shirvindt đóng trong phim “Số phận trớ trêu. Phần tiếp theo”.

Từ năm 1958 đến nay Shirvindt giảng dạy nghệ thuật diễn xuất tại Trường sân khấu mang tên B.V.Schukin. Từ năm 1995 ông nhận học hàm giáo sư.

Shirvindt cũng là tác giả của các cuốn sách “Điều đã qua không nghĩ ngợi” (Былое без дум) cùng viết với nhà phê bình nghệ thuật B.Poiurovsky và “Schirwindt bị xóa khỏi mặt đất”.

Aleksandr Shirvindt – nghệ sĩ nhân dân LB Nga, thành viên Hội các nhà hoạt động sân khấu, Hội điện ảnh, thành viên Viện Hàn lâm điện ảnh Nga và nhiều hiệp hội khác.

Ông đã được tặng huy chương Hữu nghị các dân tộc (1994), huy chương “Vì các đóng góp với Tổ quốc” hạng IV (2004).
——–

Bài này mình dịch cũng lâu rồi, từ nguồn RIA Novosti, mà chả hiểu sao chưa đưa lên blog…

Cá nhân mình thì cũng khá thích anh này, mình có cảm giác  (hời hợt sau vài lần xem trên truyền hình và phim ảnh), rằng anh này có cách diễn thông minh, hài hước và trí thức…

Maria Ermolova (1853 – 1928) – Biểu tượng của nữ tính và sắc đẹp

Nữ diễn viên sân khấu Nga Maria Ermolova – biểu tượng của nữ tính và sắc đẹp
(23:51, 13/07/2009)
Lưu Hải Hà (NuocNga.net) tổng hợp
Chân dung nữ diễn viên
Maria Ermolova.
Họa sĩ Valentin Serov
Nữ diễn viên sân khấu Nga Maria Ermolova sinh ngày 3(15) tháng 7 năm 1853 tại Moskva trong gia đình người nhắc vở của Nhà hát Maly N.A.Ermolov
Năm 1862, Maria tham gia lớp múa ballet của Trường Sân khấu Moskva. Tuy nhiên, cô bé Masha không tìm thấy tài năng ballet của mình. Cùng lúc đó, khi tham gia các cảnh quần chúng trong ballet, opera và các vở kịch sân khấu, Ermolova trở thành người chứng kiến hoạt động nghệ thuật của các diễn viên xuất sắc nhất thời bấy giờ.
Trong những buổi chiều rảnh rỗi, các nữ học sinh Trường Sân khấu tổ chức diễn kịch, và trong các vở kịch này tài năng sân khấu lớn của Ermolova đã bộc lộ.
Tuy nhiên, sau vài giờ học thì diễn viên Samarin đã … đưa Ermolova trở lại lớp ballet. Ông nói rằng – cô thì chỉ có đi nhảy múa, chứ làm sao thành diễn viên được, cử chỉ của cô quá góc cạnh, giọng nói thì thô.
Sau này Ermolova sẽ nói “Dù mọi chuyện xảy ra, trong tôi luôn có một niềm tin vững chắc không lay chuyển được, rằng tôi sẽ trở thành một nữ diễn viên hàng đầu. Niềm tin ấy không bao giờ rời khỏi tôi”.
Năm 1866, cha của Ermolova, vốn biết cô con gái đam mê sân khấu, bèn cho phép cô tham gia một vai diễn nhỏ trong vở “trong ngày benefice của mình. Đó là vai diễn đầu tiên của Ermolova, nhưng vai này không đem lại thành công cho cô.
Vận may đến với Ermolova mấy năm sau, vào năm 1870, Nadezhda Medvedeva, prima của Nhà hát Maly quyết định dựng vở “Emilia Galotti” của nhà soạn kịch Lessing trong ngày benefice của mình, nhưng diễn viên đóng vai chính N.G.Fedotova bất ngờ bị ốm. Và lúc đó ai đó chợt nhớ rằng, trong lớp ballet có một cô bé cũng có khả năng diễn xuất. Medvedeva đích thân đến quan sát nữ diễn viên múa trẻ – Ermolova không gây được ấn tượng gì đối với nữ diễn viên lừng danh này. Và Medvedeva có lẽ chỉ vì lịch sự mà đề nghị Ermolova thử vai Emilia. Tuy nhiên chỉ sau màn độc thoại đầu tiên thì Medvedeva đã quyết định “Bạn sẽ đóng vai Emilia!”
Và trong lần công diễn đầu tiên của vở kịch này ngày 30/1/1870, Ermolova đã cho thấy cả tính sân khấu lẫn sự chân thực đáng kinh ngạc.
Sau những lời đầu tiên của Ermolova trên sân khấu, trong nhà hát đã vang lên những tràng vỗ tay vang dội, tất cả đều kinh ngạc bởi giọng nói mạnh mẽ “đi ra từ ngực và đi thẳng vào tim” của diễn viên.
“Ai đó đẩy tôi từ phía sau… và tôi có mặt trên sân khấu, – sau này Ermolova hồi tưởng lại. – Tôi có cảm giác như là bị ngã vào lỗ hổng nào đó, tôi sợ kinh khủng. Trước mắt tôi, thay vì khán phòng là một vệt đen to tướng, và trên đó có hai đốm lửa nào đó… Chính tôi cũng không biết, bằng cách nào mà tôi thốt ra được những lời đầu tiên… Những tràng vỗ tay vang lên…Điều này làm tôi vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Tôi không hiểu có chuyện gì”.
Vở kịch đã thành công rực rỡ, và báo chí thời bấy giờ đã không quên nhận xét về diễn xuất thành công của nữ diễn viên trẻ (“Русская Летопись” 1870 г., № 6, и “Московские Ведомости” 1870 г., № 26)
Còn trong nhật ký của mình thì Ermolova viết: “Đã xảy ra chuyện mà chừng năm ngày trước thì tôi còn chẳng dám mơ. Tôi chỉ nghĩ rằng khán giả sẽ gọi tôi ra chào lại một lần. Nhưng họ gọi tôi ra mười hai lần”.
Năm 1871 Ermolova tốt nghiệp trường sân khấu và được nhận vào đoàn kịch của Nhà hát Maly.
Nhưng mặc dù thành tích ra mắt rất ấn tượng, ban giám đốc nhà hát vẫn tiếp tục cho rằng Ermolova không phải là diễn viên sân khấu kịch nói dram, và phận sự của Ermolova – vaudeville.
Trong những năm đầu tham gia đoàn kịch Ermolova không được giao đóng những vai diễn đáng kể, chỉ được đóng vai các cô tiểu thư nhẹ dạ trong các vở hài kịch và vaudeville
Mặc dù vậy, Ermolova vẫn kiên trì làm việc – luyện tập giọng nói, đài từ, biểu hiện của nét mặt, cử chỉ và cuối cùng đã thành công. Tới năm 1890 Ermolova được biết đến như một trong những nữ diễn viên hàng đầu nước Nga, và nổi tiếng khắp châu Âu.
Từ những năm 1870 Ermolova bắt đầu đóng những vai diễn thật sự, những vai diễn khiến nữ diễn viên quan tâm và cảm thấy hứng thú. Năm 1873 – vai Katerina trong vở kịch “Giông tố” của A.Ostrovsky. Quá trình xây dựng vai diễn này kéo dài đến vài năm. Katerina của Ermolova bước lên cao hơn cuộc sống thường nhật, sống trong thế giới tình yêu và mơ mộng của mình, đó là một người phụ nữ Nga, đầy sức mạnh bên trong và sẵn sàng tự hy sinh anh dũng…
Ba năm sau (1876) trong buổi benefice của mình Ermolova đóng vai Laurencia trong vở kịch “Nguồn cừu” (Fuente Ovejuna) của Lope de Vega. Nhà phê bình N.I.Storozhenko đã viết về vai diễn đó như sau: “Những khán giả của vở kịch đó đến giờ vẫn còn nhớ ấn tượng sâu sắc mà vở kịch cùng với diễn xuất của Maria Ermolova trong vai Laurencia đem lại… Khi Laurencia mặt mũi nhợt nhạt, tóc xõa rối tung, run rẩy vì xấu hổ và căm phẫn, chạy ra quảng trường và diễn thuyết mạnh mẽ kêu gọi dân chúng nổi dậy chống lại quan thống đốc, thì sự phấn khích của công chúng đạt đến đỉnh điểm… Trong vai diễn này đã thể hiện tình yêu tự do cháy bỏng, và sự căm thù cũng cháy bỏng đối với ách thống trị bạo ngược, trong tâm hồn nữ diễn viên trẻ. Dường như một mạch điện đã liên kết trái tim của nữ nghệ sĩ với trái tim của hàng ngàn khán giả, và họ cùng cảm nhận điều này với cô”.
Trong những năm 1890 Ermolova đóng vai trong các vở kịch của Hauptmann, Ibsen, Gorky.
Năm 1902 Ermolova có được danh hiệu Nữ diễn viên ưu tú Nhà hát Hoàng gia (Заслуженная артистка Императорских театров), nhưng bà vẫn tiếp tục diễn ở Moskva với toàn bộ sức lực và nhiệt huyết, như lần đầu xuất hiện trên sân khấu năm 1870.
Trước hết Ermolova là một nữ diễn viên bi kịch mạnh; cảm xúc nỗi buồn và bi kịch, có thể ảnh hưởng từ tuổi thơ của mình, được Ermolova thể hiện rất thuyết phục. Đặc điểm chính tài năng của Ermolova – chủ nghĩa anh hùng. Giọng nói mạnh mẽ, nét mặt biểu cảm, cộng với vẻ ngoài cao thượng đã làm Ermolova trở thành người thể hiện xuất sắc vai diễn Jeanne d’Arc trong vở “Nàng trinh nữ xứ Orlean” (1884)
Trong mỗi một hình ảnh nhân vật của mình, trước hết Ermolova nhấn mạnh khía cạnh tích cực của nhân vật, còn những nét tiêu cực trong thể hiện của Ermolova như được mềm hơn, không đột ngột. Ví dụ, vai diễn Messalina của Ermolova không khiến người ta khiếp hãi, mà thương hại (vở “Aria và Messalina” của Villebrandt)
Ermolova cũng là một nghệ sĩ lớn cả trong các vai diễn “tính cách”. Khi cần thiết, Ermolova biết cách quên bản thân mình, và truyền đạt tính cách khác lạ, sống cuộc đời khác với sự chân thực sân khấu trong từng chi tiết nhỏ.
Khi còn trẻ, Ermolova thường bị phê phán vì các cử chỉ hơi có góc cạnh, và vì Ermolova bỏ qua những tạo hình ước lệ sân khấu. Nhưng sau đó, cả trong những điểm này diễn xuất của Ermolova cũng được hoàn thiện rất nhiều. Ermolova hiểu biết cuộc sống và con người, và với tài năng lớn của mình vẫn không ngừng làm việc và suy ngẫm. Ermolova đóng vai trong các vở kịch của Lope de Vega, Rasin, Shakespeare, Schiller, Hugo, Pisemsky, Ostrovsky, Hauptmann, Ibsen, Gorky, tổng cộng trên 200 vai diễn
Cùng với công việc ở nhà hát, Ermolova còn thường trình diễn với vai trò người đọc thơ – những bài thơ trữ tình của A.S.Pushkin, M.Yu. Lermontov, N.A.Nekrasov, N.P.Ogarev, I.S.Nikitin, Ya.P.Polonsky và các nhà thơ khác.
Đóng góp nghệ thuật của Ermolova được nhân dân Nga đánh giá rất cao. Lễ kỷ niệm 50 năm hoạt động sân khấu của bà năm 1920 mang tính chất sự kiện toàn quốc; tại vở kịch kỷ niệm của Ermolova có sự hiện diện của chính V.I.Lenin. Sau Cách mạng Tháng Mười, dù tuổi đã cao, nhưng Ermolova vẫn tham gia diễn xuất khá nhiều tại các khu công nhân của Moskva. Năm 1920, Ermolova được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân của nước cộng hòa – bà là người đầu tiên được nhận danh hiệu này trong lịch sử sân khấu.
Năm 1923 Ermolova từ giã sân khấu. Bà giảng dạy khá nhiều ở trường sân khấu với các diễn viên trẻ. Năm 1928 bà qua đời trong giấc ngủ. Theo di chúc bà được chôn ở Vladykino. Sau đó được cải táng ở nghĩa trang Novodevichi.
Tên của Ermolova được đặt cho một nhà hát ở Moskva.
Chú thích
Benefice – vở kịch, tiền thu được từ vở diễn này được dành cho một hoặc một số nghệ sĩ – bénéficiaire. Benefice cho phép các nghệ sĩ có ảnh hưởng tới danh mục vai diễn của mình, được quyền tự chọn vở diễn và vai diễn.
Vaudeville – một loại hình hài kịch nhẹ nhàng, trong đó các đoạn đối thoại và hành động kịch được xây dựng trên cốt truyện nhẹ nhàng, cuốn hút xen kẽ với âm nhạc, hát và múa. Diễn xuất của các nghệ sĩ trong vaudeville thường tự nhiên, với sự nhẹ nhàng phóng tác của các lời thoại, óc quan sát sắc sảo và hài hước.
Diễn viên ưu tú Nhà hát Hoàng gia (Заслуженный артист Императорских театров) – danh hiệu danh dự cho các diễn viên sân khấu, nghệ sĩ opera và ballet làm việc trong các nhà hát hoàng gia ở Đế quốc Nga. Danh hiệu này được đặt ra từ năm 1896.
Chân dung nữ diễn viên Maria Ermolova.  Họa sĩ Valentin Serov

Chân dung nữ diễn viên Maria Ermolova. Họa sĩ Valentin Serov

Nữ diễn viên sân khấu Nga Maria Ermolova sinh ngày 3(15) tháng 7 năm 1853 tại Moskva trong gia đình người nhắc vở của Nhà hát Maly N.A.Ermolov

Năm 1862, Maria tham gia lớp múa ballet của Trường Sân khấu Moskva. Tuy nhiên, cô bé Masha không tìm thấy tài năng ballet của mình. Cùng lúc đó, khi tham gia các cảnh quần chúng trong ballet, opera và các vở kịch sân khấu, Ermolova trở thành người chứng kiến hoạt động nghệ thuật của các diễn viên xuất sắc nhất thời bấy giờ.

Trong những buổi chiều rảnh rỗi, các nữ học sinh Trường Sân khấu tổ chức diễn kịch, và trong các vở kịch này tài năng sân khấu lớn của Ermolova đã bộc lộ.

Tuy nhiên, sau vài giờ học thì diễn viên Samarin đã … đưa Ermolova trở lại lớp ballet. Ông nói rằng – cô thì chỉ có đi nhảy múa, chứ làm sao thành diễn viên được, cử chỉ của cô quá góc cạnh, giọng nói thì thô.

Sau này Ermolova sẽ nói “Dù mọi chuyện xảy ra, trong tôi luôn có một niềm tin vững chắc không lay chuyển được, rằng tôi sẽ trở thành một nữ diễn viên hàng đầu. Niềm tin ấy không bao giờ rời khỏi tôi”.

Năm 1866, cha của Ermolova, vốn biết cô con gái đam mê sân khấu, bèn cho phép cô tham gia một vai diễn nhỏ trong ngày benefice của mình. Đó là vai diễn đầu tiên của Ermolova, nhưng vai này không đem lại thành công cho cô.

Vận may đến với Ermolova mấy năm sau, vào năm 1870, Nadezhda Medvedeva, prima của Nhà hát Maly quyết định dựng vở “Emilia Galotti” của nhà soạn kịch Lessing trong ngày benefice của mình, nhưng diễn viên đóng vai chính N.G.Fedotova bất ngờ bị ốm. Và lúc đó ai đó chợt nhớ rằng, trong lớp ballet có một cô bé cũng có khả năng diễn xuất. Medvedeva đích thân đến quan sát nữ diễn viên múa trẻ – Ermolova không gây được ấn tượng gì đối với nữ diễn viên lừng danh này. Và Medvedeva có lẽ chỉ vì lịch sự mà đề nghị Ermolova thử vai Emilia. Tuy nhiên chỉ sau màn độc thoại đầu tiên thì Medvedeva đã quyết định “Bạn sẽ đóng vai Emilia!”

Và trong lần công diễn đầu tiên của vở kịch này ngày 30/1/1870, Ermolova đã cho thấy cả tính sân khấu lẫn sự chân thực đáng kinh ngạc.

Sau những lời đầu tiên của Ermolova trên sân khấu, trong nhà hát đã vang lên những tràng vỗ tay vang dội, tất cả đều kinh ngạc bởi giọng nói mạnh mẽ “đi ra từ ngực và đi thẳng vào tim” của diễn viên.

“Ai đó đẩy tôi từ phía sau… và tôi có mặt trên sân khấu, – sau này Ermolova hồi tưởng lại. – Tôi có cảm giác như là bị ngã vào lỗ hổng nào đó, tôi sợ kinh khủng. Trước mắt tôi, thay vì khán phòng là một vệt đen to tướng, và trên đó có hai đốm lửa nào đó… Chính tôi cũng không biết, bằng cách nào mà tôi thốt ra được những lời đầu tiên… Những tràng vỗ tay vang lên…Điều này làm tôi vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Tôi không hiểu có chuyện gì”.

Vở kịch đã thành công rực rỡ, và báo chí thời bấy giờ đã không quên nhận xét về diễn xuất thành công của nữ diễn viên trẻ (“Русская Летопись” 1870 г., № 6, и “Московские Ведомости” 1870 г., № 26)

Còn trong nhật ký của mình thì Ermolova viết: “Đã xảy ra chuyện mà chừng năm ngày trước thì tôi còn chẳng dám mơ. Tôi chỉ nghĩ rằng khán giả sẽ gọi tôi ra chào lại một lần. Nhưng họ gọi tôi ra mười hai lần”.

Năm 1871 Ermolova tốt nghiệp trường sân khấu và được nhận vào đoàn kịch của Nhà hát Maly. Nhưng mặc dù thành tích ra mắt rất ấn tượng, ban giám đốc nhà hát vẫn tiếp tục cho rằng Ermolova không phải là diễn viên sân khấu kịch nói dram, và phận sự của Ermolova – vaudeville.

Trong những năm đầu tham gia đoàn kịch Ermolova không được giao đóng những vai diễn đáng kể, chỉ được đóng vai các cô tiểu thư nhẹ dạ trong các vở hài kịch và vaudeville

Mặc dù vậy, Ermolova vẫn kiên trì làm việc – luyện tập giọng nói, đài từ, biểu hiện của nét mặt, cử chỉ và cuối cùng đã thành công. Tới năm 1890 Ermolova được biết đến như một trong những nữ diễn viên hàng đầu nước Nga, và nổi tiếng khắp châu Âu.

Từ những năm 1870 Ermolova bắt đầu đóng những vai diễn thật sự, những vai diễn khiến nữ diễn viên quan tâm và cảm thấy hứng thú. Năm 1873 – vai Katerina trong vở kịch “Giông tố” của A.Ostrovsky. Quá trình xây dựng vai diễn này kéo dài đến vài năm. Katerina của Ermolova bước lên cao hơn cuộc sống thường nhật, sống trong thế giới tình yêu và mơ mộng của mình, đó là một người phụ nữ Nga, đầy sức mạnh bên trong và sẵn sàng tự hy sinh anh dũng…

Ba năm sau (1876) trong buổi benefice của mình Ermolova đóng vai Laurencia trong vở kịch “Nguồn cừu” (Fuente Ovejuna) của Lope de Vega. Nhà phê bình N.I.Storozhenko đã viết về vai diễn đó như sau: “Những khán giả của vở kịch đó đến giờ vẫn còn nhớ ấn tượng sâu sắc mà vở kịch cùng với diễn xuất của Maria Ermolova trong vai Laurencia đem lại… Khi Laurencia mặt mũi nhợt nhạt, tóc xõa rối tung, run rẩy vì xấu hổ và căm phẫn, chạy ra quảng trường và diễn thuyết mạnh mẽ kêu gọi dân chúng nổi dậy chống lại quan thống đốc, thì sự phấn khích của công chúng đạt đến đỉnh điểm… Trong vai diễn này đã thể hiện tình yêu tự do cháy bỏng, và sự căm thù cũng cháy bỏng đối với ách thống trị bạo ngược, trong tâm hồn nữ diễn viên trẻ. Dường như một mạch điện đã liên kết trái tim của nữ nghệ sĩ với trái tim của hàng ngàn khán giả, và họ cùng cảm nhận điều này với cô”.

Trong những năm 1890 Ermolova đóng vai trong các vở kịch của Hauptmann, Ibsen, Gorky.

Năm 1902 Ermolova có được danh hiệu Nữ diễn viên ưu tú Nhà hát Hoàng gia (Заслуженная артистка Императорских театров), nhưng bà vẫn tiếp tục diễn ở Moskva với toàn bộ sức lực và nhiệt huyết, như lần đầu xuất hiện trên sân khấu năm 1870.

Trước hết Ermolova là một nữ diễn viên bi kịch mạnh; cảm xúc nỗi buồn và bi kịch, có thể ảnh hưởng từ tuổi thơ của mình, được Ermolova thể hiện rất thuyết phục. Đặc điểm chính tài năng của Ermolova – chủ nghĩa anh hùng. Giọng nói mạnh mẽ, nét mặt biểu cảm, cộng với vẻ ngoài cao thượng đã làm Ermolova trở thành người thể hiện xuất sắc vai diễn Jeanne d’Arc trong vở “Nàng trinh nữ xứ Orlean” (1884)

Trong mỗi một hình ảnh nhân vật của mình, trước hết Ermolova nhấn mạnh khía cạnh tích cực của nhân vật, còn những nét tiêu cực trong thể hiện của Ermolova như được mềm hơn, không đột ngột. Ví dụ, vai diễn Messalina của Ermolova không khiến người ta khiếp hãi, mà thương hại (vở “Aria và Messalina” của Villebrandt)

Ermolova cũng là một nghệ sĩ lớn cả trong các vai diễn “tính cách”. Khi cần thiết, Ermolova biết cách quên bản thân mình, và truyền đạt tính cách khác lạ, sống cuộc đời khác với sự chân thực sân khấu trong từng chi tiết nhỏ.

Khi còn trẻ, Ermolova thường bị phê phán vì các cử chỉ hơi có góc cạnh, và vì Ermolova bỏ qua những tạo hình ước lệ sân khấu. Nhưng sau đó, cả trong những điểm này diễn xuất của Ermolova cũng được hoàn thiện rất nhiều. Ermolova hiểu biết cuộc sống và con người, và với tài năng lớn của mình vẫn không ngừng làm việc và suy ngẫm. Ermolova đóng vai trong các vở kịch của Lope de Vega, Rasin, Shakespeare, Schiller, Hugo, Pisemsky, Ostrovsky, Hauptmann, Ibsen, Gorky, tổng cộng trên 200 vai diễn

Cùng với công việc ở nhà hát, Ermolova còn thường trình diễn với vai trò người đọc thơ – những bài thơ trữ tình của A.S.Pushkin, M.Yu. Lermontov, N.A.Nekrasov, N.P.Ogarev, I.S.Nikitin, Ya.P.Polonsky và các nhà thơ khác.

Đóng góp nghệ thuật của Ermolova được nhân dân Nga đánh giá rất cao. Lễ kỷ niệm 50 năm hoạt động sân khấu của bà năm 1920 mang tính chất sự kiện toàn quốc; tại vở kịch kỷ niệm của Ermolova có sự hiện diện của chính V.I.Lenin. Sau Cách mạng Tháng Mười, dù tuổi đã cao, nhưng Ermolova vẫn tham gia diễn xuất khá nhiều tại các khu công nhân của Moskva. Năm 1920, Ermolova được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân của nước cộng hòa – bà là người đầu tiên được nhận danh hiệu này trong lịch sử sân khấu. Đối với công chúng Nga thời ấy, Ermolova là một nghệ sĩ vĩ đại, biểu tượng của nữ tính và sắc đẹp.

Năm 1923 Ermolova từ giã sân khấu. Bà giảng dạy khá nhiều ở trường sân khấu với các diễn viên trẻ. Năm 1928 bà qua đời trong giấc ngủ. Theo di chúc bà được chôn ở Vladykino. Sau đó được cải táng ở nghĩa trang Novodevichi.

Tên của Ermolova được đặt cho một nhà hát ở Moskva.

Chú thích

  • Benefice – vở kịch, tiền thu được từ vở diễn này được dành cho một hoặc một số nghệ sĩ – bénéficiaire. Benefice cho phép các nghệ sĩ có ảnh hưởng tới danh mục vai diễn của mình, được quyền tự chọn vở diễn và vai diễn.
  • Vaudeville – một loại hình hài kịch nhẹ nhàng, trong đó các đoạn đối thoại và hành động kịch được xây dựng trên cốt truyện nhẹ nhàng, cuốn hút xen kẽ với âm nhạc, hát và múa. Diễn xuất của các nghệ sĩ trong vaudeville thường tự nhiên, với sự nhẹ nhàng phóng tác của các lời thoại, óc quan sát sắc sảo và hài hước.
  • Diễn viên ưu tú Nhà hát Hoàng gia (Заслуженный артист Императорских театров) – danh hiệu danh dự cho các diễn viên sân khấu, nghệ sĩ opera và ballet làm việc trong các nhà hát hoàng gia ở Đế quốc Nga. Danh hiệu này được đặt ra từ năm 1896.

Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Leonid Bronevoi tròn 80 tuổi

Hoàng Lan (NuocNga.net) dịch
Theo báo chí Nga

Muller và Shtirlits – một cảnh trong phim "Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân"

Diễn viên sân khấu và điện ảnh Leonid Bronevoi sinh ngày 17/12/1928 ở Kiev. Mẹ ông là một kế toán, còn cha làm ở Ban kinh tế Ủy ban nội vụ nhân dân Ukraina

Năm 1937 cha của Bronevoi bị bắt và kết tội "kẻ thù dân tộc", mẹ con ông phải chuyển tới thành phố Malmyzh vùng Kirov. Leonid khi đó đang học trường nhạc thuộc Nhạc viện Kiev, lúc đó buộc phải thôi học.

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Bronevoi vào học ở Trường Đại học sân khấu Tashken mang tên A. N.Ostrovsky. Năm 1950 Bronevoi được phân công công tác ở Nhà hát Kịch nói mang tên A.S.Pushkin ở thành phố Magnitogor. Ít lâu sau ông chuyển đến làm việc ở Nhà hát Kịch nói Orenburg.

Một lần, Bronevoi xem trên truyền hình vở kịch "Dưới đáy" (tác giả M.Gorky) của Nhà hát Nghệ thuật do Aleksei Gribov đóng vai chính, và diễn xuất của Gribov đã khiến Bronevoi rất khâm phục, nên đã vào học trường sân khấu của Nhà hát Nghệ thuật Moskva.

Leonid Bronevoi trong phim "Những điều đơn giản"

Năm 1955, sau khi tốt nghiệp trường sân khấu của Nhà hát Nghệ thuật Moskva, Bronevoi tới công tác ở Nhà hát mang tên M.Yu.Lermontov ở thành phố Groznyi, tại đây ông đã đóng vai Stalin trong vở kịch "Chuông đồng hồ điện Kremli" của nhà soạn kịch Pogodin, sau đó ở Nhà hát Kịch nói Irkutsk, còn từ năm 1958 – 1962 – ở Nhà hát Voronezh. Trong thời kỳ này nghệ sĩ đã đóng vai trong các vở kịch "Gió, hãy nổi lên!" của Rainis, "Những kẻ thù" của M.Gorky, "Nhà tắm" của Maiakovsky, "Con chó trên đống cỏ khô" của Lope de Vega, "Chúc thành công!" của Rozov, "Tầng sáu" của Zheri, "Cô gái đánh trống" của Salynsky, "Hải âu" của Tsekhov và các vở khác.

Năm 1962 Bronevoi chuyển tới Nhà hát ở Malaya Bronnaya và làm việc ở đây 25 năm. Leonid Bronevoi đã đóng rất nhiều vai ở nhà hát này trong các vở kịch của các đạo diễn Anatoly Efros, Aleksandr Dunaev, Lev Durov, Evgeny Lazarev và các đạo diễn khác. Các vai diễn nổi bật nhất trong thời kỳ này là các vai trong các vở kịch do đạo diễn Anatoly Efros dàn dựng: "Đám cưới" của Gogol, , "Romeo và Juliet" của Shakespeare, "Những truyện cổ tích của phố Arbat cũ" của Arbuzov và các vở khác.

Từ năm 1988 Leonid Bronevoi diễn trên sân khấu Nhà hát Lenkom ở Moskva do đạo diễn Mark Zakharov lãnh đạo. Ở đây ông đã đóng những vai như tướng Krutisky trong "Nhà thông thái" của Ostrovsky, bác sĩ Dorn trong "Hải âu" của Tsekhov, công tước Norfolk trong vở "Trò chơi vua chúa" của Gorin, người hầu Potapych trong "Người man rợ và người dị giáo" theo tiểu thuyết "Con bạc" của Dostoevsky.

Leonid Bronevoi đến với điện ảnh lần đầu năm 1964 trong vai đại tá cảnh sát trong bộ phim "Đồng chí Arseni". Ông đã rất nổi tiếng và được khán giả yêu mến sau vai Muller trong bộ phim truyền hình 12 tập của đạo diễn Tatiana Lioznova "Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân" (1973).

Leonid Bronevoi đã đóng trên 50 vai trong điện ảnh. Trong số các vai diễn nổi bật có: Manuilov trong phim lịch sử "Sự đau đớn cực độ" (1974), Công tước trong phim "Chính là Münchhausen" (1979), Veliurov trong vở "Cổng Pokrov" (1982). Một số vai diễn đáng chú ý khác trong các bộ phim như "Công thức tình yêu", "Kết thúc phi vụ "Thống sứ", "Những bầu trời hứa".


Leonid Bronevoi và đạo diễn Mark Zakharov

Hiện tại vai diễn cuối của Leonid Bronevoi trong điện ảnh là vai nghệ sĩ già Zhuravlev trong phim "Những điều đơn giản", vai diễn này đã đem lại cho ông giải thưởng "Nika" năm 2008.

Một trang đặc biệt trong sự nghiệp của Bronevoi – đó là sự tham gia trong các tác phẩm truyền hình của đạo diễn Anatoly Efros – "Vài lời về ngài de Moliere", "Các trang nhật ký của Petrorin" và "Boris Godunov".

Leonid Bronevoi được trao tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân Liên Xô năm 1987. Ông được tặng Giải thưởng Quốc gia LB Nga mang tên K.S.Stanislavsky vì sự nghiệp sân khấu (1996), Giải thưởng Quốc gia CHLB Nga năm 1976 cho vai diễn trong phim "Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân".

Leonid Bronevoi được tặng huy chương Lao động Cờ đỏ (năm 1982), huy chương "Vì thành tựu đối với Tổ quốc" hạng IV (năm 1997), hạng III (năm 2003) và hạng II năm 2008.

Andrei Myagkov không thích “Số phận trớ trêu”

Lưu Hải Hà (NuocNga.net) dịch
Theo RIA Novosti


Tháng 7 này nghệ sĩ nhân dân Liên bang Nga Andrei Myagkov, người đã hai lần nhận Giải thưởng Quốc gia tròn 69 tuổi. Bây giờ thì khán giả chỉ có thể thấy ông trên sân khấu Nhà hát Nghệ thuật hàn lâm mang tên Chekhov.

Và mặc dù, theo ước tính của nghệ sĩ, ông đã đóng hơn 50 bộ phim, nhưng khán giả thì biết đến Myagkov qua có vài phim. Trong số đó có “Chuyện tình công sở”, “Ga-ra”, “Bản tình ca nghiệt ngã”, và tất nhiên “Anh em nhà Kamarazov”, trong đó vai Aliosa đã đem lại cho Myagkov thành công lớn đầu tiên trong điện ảnh.

Andrei Vasilievich Myagkov sinh ngày 8/7/1938 ở Leningrad, trong gia đình một giáo sư Trường Đại học Bách khoa.

“Lần đầu tiên tôi làm quen với nghệ thuật hồi học những lớp cuối thời phổ thông: tôi vui vẻ tham gia câu lạc bộ sân khấu, đóng vai chính trong các vở kịch. Nhưng sau khi tốt nghiệp phổ thông thì tôi lại đi theo con đường của cha tôi và thi vào Trường Đại học Công nghệ Hóa học Leningrad. Sau khi nhận bằng tôi được phân công về làm việc ở Viện chất dẻo ở ngay thành phố này. Còn may mắn đã gặp tôi khi các giảng viên của Trường Sân khấu mang tên Nhemirovich-Đanchenko tới Leningrad tìm kiếm các tài năng trẻ. Số phận đã sắp đặt để nhà hát đi vào cuộc đời tôi. Các giám khảo chưa nghe xong bài thơ ngụ ngôn tôi đọc đã nói: “Thôi chàng trẻ tuổi ạ, không cần tiếp tục nữa đâu. Anh đã được nhận rồi”. – Myagkov hồi tưởng lại.

Tấm cạcvi dít của nghệ sĩ tất nhiên là bộ phimSố phận trớ trêu” – đã 25 năm liên tục nước Nga đón năm mới cùng với Giênia Lukasinvai diễn của Andrei Myagkov.

Nhưng chính bản thân Myagkov thì lại không thích nói về bộ phim này. Thậm chí tại những chương trình nghệ thuật của ông thì Myagkov cũng chỉ nói lướt qua về bộ phim ấy.

Cho tới tận bây giờ, dù chúng tôi có đi lưu diễn đâu đi nữa, thì chỉ cần nhìn thấy tôi là dân tình đã huých tay nhau, nhìn kìa, anh chàng rượu chè đấy. Lúc đầu tôi chỉ muốn chui xuống đất, sau thì quen dần, nhưng vẫn thấy ấm ức. Tại sao người ta lại chỉ nhìn thấy trong nhân vật của tôi có một anh chàng rượu chè, mà thực tế thì anh ta cũng có say sưa rượu chè đâu? Và từ đó thì tôi cũng không thể chịu được tắm hơi nữa” – Myagkov thất vọng

Và khi được hỏi, tại sao Eldar Ryazanov – đạo
diễn bộ phim, lại chọn ông vào vai chính thì Myagkov chỉ mỉm cười ngượng nghịu.

Thể hiện một con người không ý thức được xung quanh, nhưng lại vẫn phải tự nhiên, dễ thương, và lại buồn cười nữa – đó là một công việc rất đỗi khó khăn. Mà Myagkov làm điều đó vừa nhẹ nhàng vừa duyên dáng. Trút bỏ quần áo, chui vào giường người khác, mà lại còn tỏ ra thô lỗthì dễ thôi. Nhưng trong hoàn cảnh đó lại phải quyến rũ, ngộ nghĩnh, và gợi được cảm tình của khán giả, thì có lẽ không phải ai cũng làm được“, – đạo diễn Ryazanov giải thích sự lựa chọn của mình như vậy.

Andrei Myakov và Barbara Brylska trong “Số phận trớ trêu”

Một vai diễn tuyệt vời khác của Myagkov cũng trong một bộ phim khác của Ryazanov – đó là vai Novoseltsev trong bộ phim hàiMối tình công sởnăm 1977. Myagkov đã cùng với bạn diễn Alisa Freindlikh tạo thành một cặp đôi diễn hết sức ăn ý.

Thành công của những bộ phim ấy là ngoài sức tưởng tượng. Nhưng điều này vẫn không thay đổi cuộc đời của nghệ sĩ.

Tôi chưa bao giờ cảm nhận được tình yêu đặc biệt nào của khán giả cả. Tôi không có những bà triệu phú hâm mộ tặng tôi những chiếc du thuyền và những chiếc ô tô đắt giá. Tôi cũng nghèo như phần lớn các nghệ sĩ khác của chúng ta thôi. Tất nhiên là tôi cũng có ô tô, và tôi cũng có thể cho phép mình vào tiệm ăn, mời bạn bè đến đó. Nhưng tiền lương của tôi thì chẳng đáng bao nhiêu, và lúc nào cũng thế“.

Vào những năm 1990 thì Myagkov rất ít đóng phim, ông dành thời gian cho các hoạt động sân khấu và giảng dạy

Myagkov không thích kể về cuộc sống riêng của mình, mặc dù những người quen biết vẫn nói rằng ông có một gia đình lý tưởng.

Andrei Myagkov và Anastasia Voznesenskaya đã bên nhau 40 năm, nhưng theo như đồng nghiệp nói, tình cảm
của họ không phai nhạt theo năm tháng. Họ quen nhau khi còn là sinh viên của Trường đào tạo sân khấu của Nhà hát Nghệ thuật. Và từ đó tới giờ họ luôn bên nhau. Họ cùng nhau gia nhập nhà hátNgười cùng thờinăm 1965, cùng nhau rời nhà hát này và đến với Nhà hát Nghệ thuật năm 1977, nơi mà cho tới giờ họ vẫn cùng sắm vai trên sân khấu.

Hiện nay Andrei Myagkov từ chối mọi dự án truyền hình.

Nói chung là tôi luôn luôn từ chối mọi lời mờithắp sáng màn ảnh vô tuyến bằng cái diện mạo của mình“. Việc đó không lôi cuốn tôi“.

Ông hoàn toàn thanh thản đi trên các phương tiện giao thông công cộng.

metro lúc nào cũng nhiều người, ai cũng vội đi đâu đó, và chẳng ai quan tâm đến việc anh là nghệ sĩ. Ít nhất thì chẳng bao giờ người ta nhận ra tôi cả. À không, có một lần đấy. Có một anh chàng say rượu nào đó đứng gần mãi, rồi nói: “Này anh bạn, tôi đã thấy anh đâu đó rồi“.

Đến bây giờ người nghệ sĩ vẫn tin vào truyện cổ tích
và chỉ đón năm mới nhà. Ông nói Tôi tin chắc rằng Năm mới là một ngày lễ hoàn toàn gia đình, và cần phải đón nó bên những người thân nhất của mình trong điều kiện riêng tư. Với món saladolivietruyền thống trên bàn, rượu sâm panh và những lời mong ước dưới tiếng chuông của Đồng hồ điện Kremli“.

Hiện nay Andrei Myagkov say mê vẽ chân dung.

Tôi vẽ chân dung những khán giả mà tôi nhìn thấy trong khán phòng. Những người tình cờ mà tôi gặp trong metro hoặc trên đường phố. Những người nổi tiếng nữa. À, mà những bức chân dung tôi vẽ được treo trong nhà của Mikhail Gorbachov và Galina Volchek đấytôi tặng họ mà. Chỉ còn phải tặng chân dung cho Putin nữa thôi“.