Trò chuyện với hạnh phúc – bài hát trong phim “Ivan Vasilievich đổi nghề”

Thực tình là định dịch cái gì đó hài hước, không ngờ lại thành thế này 🙂

Ai đã xem phim “Ivan Vasilievich đổi nghề” thì chắc nhớ ca khúc này:

“Разговор со счастьем”, музыка: Александр Зацепин, слова: Леонид Дербенёв

Ca sĩ: Valery Zolotukhin
Advertisements

Romance – Tạo vật tuyệt vời

Hôm nay  bỗng dưng nhớ lại thời tuổi trẻ nông nổi.. một bộ phim cũ “Công thức tình yêu” (Формула любви). Thật ra thì xem phim này mình chỉ ấn tượng nhất romance của một anh chàng trẻ tuổi, đại loại là vai thứ  chính trong phim, đến giờ thì chẳng nhớ phim nói gì, mà chắc cũng chẳng cần nhớ.

Còn cái romance kia thì thể hiện tình yêu của anh chàng này với một bức tượng, bạn đọc đừng giật mình… Mình phởn chí dịch thử chơi thôi. À, trước hết các bạn xem đoạn phim ấy đã nhỉ:

Còn dưới đây là phần lời của romance này

Continue reading

Giới thiệu phim hoạt hình “Pif-paf, ôi-ôi-ôi!”

Vì là mình đã lỡ làm phụ đề cho phim này, nên đương nhiên là mình ưu ái nó rồi 🙂 Và vì tiếc công làm phụ đề, nên cũng cố bôi ra một bài giới thiệu, nhằm câu khách cho phim.

Như mình đã dịch trong phụ đề, đây là một phim hoạt hình, dưới hình thức các tiểu phẩm nhại trên sân khấu. Nội dung thì rất đơn giản. Cómột bài thơ thiếu nhi cực kỳ đơn giản của Nga: Continue reading

Pif-paf, ôi-ôi-ôi!

Tình hình là mình đang ấp ủ ý tưởng làm phụ đề tiếng Nga hoặc/và tiếng Việt cho phim này, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Hiện tại phim gốc thì đang download chưa xong, phần text thì cũng cần phải edit cho phù hợp với âm thanh phát ra từ phim. Tóm lại, tình hình là có thể kịp có sản phẩm chào mừng ngày 01/4, ai quan tâm thì chờ, ai không quan tâm thì … thôi.

Continue reading

Tiểu sử Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Vyacheslav Tikhonov (1928-2009)

Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Vyacheslav Tikhonov sinh ngày 8/2/1928 ở thành phố Pavlovsky Posad vùng Moskva. Người cha của ông là một kỹ sư cơ khí ở nhà máy dệt, còn mẹ là người nuôi dạy trẻ tại vườn trẻ.

Tikhonov lớn lên trong môi trường công nhân, và làm tất cả những gì các cậu bé thời đó làm khi phần lớn thời gian ở ngoài phố. Năm 1941, khi một quân y viện đóng trong trường, nơi Tikhonov học, thì người cha nói: “Cần phải có nghề ngỗng, chứ không nên lêu lổng như thế!” và Tikhonov vào học trường nghề.

Cũng giống như cha mình, từ bé Tikhonov đã thích tự làm mọi thứ trong nhà. Vì vậy, công việc thợ tiện trong nhà máy quân sự là không hề nặng nhọc. Buổi chiều sau giờ làm, Tikhonov thường cùng bạn bè tới rạp chiếu bóng “Vulcan”, và tất cả say mê xem những bộ phim anh hùng. Các nhân vật yêu quý của họ là Chapaev do Boris Babochkin đóng, Aleksandr Nevsky do Nikolai Cherkasov đóng và tất nhiên là những thần tượng của thời bấy giờ – Mikhail Zharov và Petr Aleinikov. “Đó là những người đã lôi cuốn tôi, và kéo tôi vào nghệ thuật” – sau này Vyacheslav Tikhonov sẽ nói.

Anh thợ tiện trẻ tuổi bí mật mơ ước về điện ảnh. Bí mật – bởi vì người cha thì mong con trai trở thành kỹ sư cơ khí, còn người mẹ thì muốn con mình sẽ thành kỹ sư nông nghiệp. Năm 1944 Vyacheslav vào học Trường đại học Cơ khí ô tô. Nhưng gần năm 1945 thì anh ấp ủ ý định thử vận may ở VGIK (Trường Đại học nghệ thuật điện ảnh toàn Liên Xô). Ban đầu anh không được nhận vào trường. Nhưng một duyên may đã xảy ra – sau kỳ thi tuyển thì giáo sư B.V.Bibikov của VGIK đã ghi tên anh vào lớp của mình.

Năm 1950 Vyacheslav Tikhonov tốt nghiệp xuất sắc VGIK. Trong những năm sinh viên, Tikhonov đã có mặt lần đầu trong bộ phim “Đội cận vệ thanh niên” (Молодая гвардия) của đạo diễn Sergei Gerasimov năm 1948 – anh đóng vai Volodia Osmukhin. Bộ phim này là một sự kiện đặc biệt của điện ảnh Xô-viết những năm 1940: giai đoạn chuẩn bị công phu và kỹ càng, sự nhập vai của các diễn viên (trong thời gian sống ở những nơi được A.A.Fadeev miêu tả trong tiểu thuyết), các tính cách đa dạng, sự hồi phục môi trường cụ thể và tin cậy. Bộ phim này đã tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo không chỉ cho V.Tikhonov, mà còn cả một thế hệ các diễn viên tài năng: Inna Makarova, Sergej Gurzo, Nonna Mordjukova, Viktor Hohrjakov, Klara Luchko, Sergej Bondarchuk, Evgenij Morgunov, Ljudmila Shagalova, Georgij Jumatov, Viktor Avdjushko, Tamara Nosova, Muza Krepkogorskaya. Hơn một nửa trong số các diễn viên trẻ này lần đầu tiên đóng phim. Vì vậy, bộ phim “Đội cận vệ thanh niên” có thể được gọi là sự ra mắt chói lọi của cả một thế hệ diễn viên Liên Xô sau chiến thanh. Dù cho sau này họ có đóng những vai nào đi nữa, thì điểm chung sáng tạo nội tâm của họ vẫn rất rõ nét

Mặc dù vậy, khác với phần lớn các diễn viên của “Đội cận vệ thanh niên”, sau năm 1948 thì có đến gần 10 năm Tikhonov không nhận được vai diễn nào quan trọng. Các đạo diễn chủ yếu là sử dụng hình thức của Tikhonov, không đặt mục đích phát triển tiềm năng diễn xuất. Tình hình này quả là nghịch lý còn vì diễn viên đã không trở thành ngôi sao, mặc dù có mọi điều kiện cần thiết.

Nhưng những năm tháng ấy không thể gọi là vô ích trong việc hình thành bản sắc diễn xuất cá nhân của Tikhonov: vai Gấu trong vở kịch “Điều kỳ diệu bình thường” do đạo diễn E.P.Garin dàn dựng đã giúp Tikhonov thông báo về năng khiếu diễn xuất của mình.


Tikhonov trong phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo“

Năm 1957 một biến chuyển mạnh mẽ được chờ đợi từ lâu rốt cuộc đã xảy ra trong sự nghiệp của Tikhonov: bộ phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo” (Дело было в Пенькове) của đạo diễn S.I.Rostovtsky được công chiếu. Vai anh thợ lái máy kéo Matvei Morozov đã mang lại cho Tikhonov sự thừa nhận của khán giả, và cùng với đó – khán giả cần thấy một diễn viên cho nhân vật của mình những nét mới đối với điện ảnh những năm ấy: sự lãng mạn trầm lặng, khiêm tốn trong cuộc sống thường nhật bình thường, tưởng như vĩnh cửu, nhưng dù sao cũng trôi qua. Có vẻ như trên màn ảnh điều này dễ trở thành giả dối (nhất là vì vẻ ngoài của diễn viên có vẻ không phù hợp với vai thợ lái máy kéo) – nhưng khán giả đã thừa nhận Matvei Morozov. Dường như họ cảm thấy rằng, bi kịch đích thực của nhân vật không phải ở mối tình bi thảm của anh ta, mà là ở sự không tương thích nội tâm của nhân vật với những hoàn cảnh. Bởi vì xét cho cùng Matvei Morozov không phải là một nhân vật thường nhật, mà ở một khía cạnh nào đó, là một người mơ mộng lãng mạn. Điều này thậm chí còn được nhấn mạnh trong cảnh “mơ mộng” của nhân vật, khi anh ta mơ thấy những chiếc máy kéo viễn tưởng của tương lai. Nói cách khác, khán giả phát hiện rằng nhân vật của Tikhonov không phải như cái nhìn ban đầu: anh ta thú vị hơn, thông minh hơn, phức tạp hơn so với khuôn mẫu “con người Xô viết bình thường” trong nhiều bộ phim khác.

Và thế là Vyacheslav Tikhonov đã tìm được đề tài diễn xuất của mình, và đó cũng là khởi đầu của sự hợp tác nghệ thuật nhiều năm của Tikhonov với đạo diễn S.I.Rostovtsky.

Trong bộ phim tiếp theo của mình – “Tình trạng khẩn cấp” (Чрезвычайное происшествие, 1958, đạo diễn Viktor Ivchenko), Tikhonov đóng vai Viktor Raisky, một thủy thủ Odessa vui vẻ, dường như vô tư lự, và đã trở thành một người anh hùng thật sự khi tàu bị cướp. Một lần nữa Tikhonov lại “đánh lừa” những khán giả không chờ đợi những chiến công ấy từ phía Raisky, và đánh lừa những kẻ địch tin vào sự ngờ nghệch của nhân vật. Và nếu như đối với kẻ thù, tính cách ấy của nhân vật tạo nên sự phá sản các kế hoạch của chúng (dù không phải sự phá sản hoàn toàn), thì đối với khán giả, người thủy thủ đáng tin cậy, nhận thức được sức mạng của mình trở thành “người của ta”, người mà khán giả có thể tuyệt đối tin tưởng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bộ phim này đã đứng đầu danh sách các bộ phim đắt khách nhất Liên Xô năm 1959.

Vai Andrei Bolkonsky trong “Chiến tranh và hòa bình”

Sau các bộ phim “Câu chuyện xảy ra ở Penkovo” và “Tình trạng khẩn cấp” thì các đạo diễn bắt đầu tin tưởng Tikhonov. Và trong một thời gian ngắn, Tikhonov đã đóng sáu vai diễn lớn khác nhau trong các bộ phim “Những ngôi sao tháng năm” (Майские звезды, 1959) và “Theo bảy ngọn gió” (На семи ветрах, 1962) của đạo diễn S.I.Rostovsky; “Cơn khát” (Жажда, 1959) của đạo diễn E.Tashkov; “Chuẩn úy hải quân Panin” (Мичман Панин, 1960) của đạo diễn M.Shveitser; “Hai cuộc đời” (Две жизни, 1961) của đạo diễn L. Lukov và «Bi kịch lạc quan» (Оптимистическая трагедия, 1963) của đạo diễn S. Samsonov.

Hành động của ba bộ phim đầu diễn ra trong những năm tháng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; và do đó, Tikhonov có khả năng thể hiện chủ nghĩa anh hùng, lãng mạn và cao thượng của các nhân vật của mình rõ nét hơn. Đặc biệt thành công là vai Bezborodko trong phim “Cơn khát”, trong đó phần nào nghệ sĩ đã dự đoán trước vai Isaev – Stirlitz của mình. Hơn thế, chính vai diễn này đã cho thấy, rằng trong nền điện ảnh Liên Xô đã xuất hiện một diễn viên tài năng mới, người có khả năng chỉ qua cách mặc quân phục cũng thể hiện tính cách nhân vật. Và Tikhonov đã phát triển thành công, đóng vai các nhân vật từ quá khứ xa hơn, từ những năm Cách mạng Tháng Mười và trước đó nữa.

Cả chuẩn úy hải quân Panin (trong phim của Shveitser) và công tước Sergei Naschokin (trong “Hai cuộc đời”), và Aleksei (trong “Bi kịch lạc quan” đều có một điểm chung – cả ba nhân vật đều gắn liền một cách hữu cơ với bản chất nghệ sĩ của Tikhonov, đều cùng phát triển chủ đề nội tâm của diễn viên. Chuẩn úy hải quân Panin đã thực hiện thành công rực rỡ nhiệm vụ giải thoát tù nhân khỏi pháo đài Kronshtadt rồi sau đó – đánh lừa những kẻ địch của mình ở nước Nga. Còn công tước Naschokin thì ngược lại, không đánh lừa ai cả, ngoại trừ chính mình, và vì thế trở thành người thua cuộc… Cuối cùng, Aleksei đã cắt đứt với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ vì anh thông minh hơn và sâu sắc hơn bọn họ, và anh đã cho thấy, rằng anh không trở thành nhân vật chính diện nhờ chiếc đũa thần nào, mà ngay từ đầu anh đã là một nhân vật như vậy.

Trong nửa sau những năm 1960 Tikhonov đi thêm một bước tiến lớn tới đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất: vai Andrei Bolkonsky trong bộ phim sử thi “Chiến tranh và hòa bình” (Война и мир, 1965–1967) của đạo diễn Sergei Bondarchuk. Vai diễn này đã đòi hỏi diễn viên phải diễn với toàn bộ khả năng của mình, và Tikhonov cũng như tất cả các thành viên của bộ phim đã làm việc hết sức căng thẳng. Mặc dù vậy, vai diễn này không được lòng các nhà phê bình lắm (dù khán giả nghĩ khác), và bản thân đạo diễn dường như cũng không hài lòng lắm với vai diễn này. Tuy nhiên thời gian sau khi bộ phim được công chiếu đã cho thấy sự đúng đắn rõ ràng của diễn viên. Người ta nhận thấy rằng vai Bolkonsky của Tikhonov đã không những vượt quá thời đại của mình, mà còn … tụt hậu khỏi thời đại ấy, vì trong sâu thẳm tâm hồn mình, Bolkonsky là một người lý tưởng hóa không lay chuyển được. Có lẽ, Bolkonsky không chỉ thuộc về thời đại mà Tolstoi mô tả, anh thuộc về tất cả mọi thời. Và chính vì vậy, nếu không đòi hỏi diễn viên điều không thể, thì cần phải thừa nhận rằng cách thể hiện ấy là thuyết phục.

Trong phim “Gắng sống đến thứ hai“

Sau vai diễn phức tạp và rút hết sức lực nhường ấy, Vyacheslav Tikhonov đã vào vai thầy giáo Melnikov hết sức thành công trong bộ phim “Gắng sống đến thứ hai” (“Доживем до понедельника” -1969) của đạo diễn S.I.Rostotsky. Melnikov trở thành một nhân vật lý tưởng (với cách hiểu tốt đẹp nhất của từ này), và thậm chí – mẫu mực để bắt chước. Vai diễn này đã mang lại cho nghệ sĩ Giải thưởng quốc gia Liên Xô năm 1970.

Các vai diễn trong phim của đạo diễn Sergei Soloviev đã bổ sung thêm vào bảng màu diễn xuất của Tikhonov một vài màu sắc bất ngờ mới (ví dụ, sự tự mỉa mai) – phim “Hạnh phúc gia đình (Семейное счастье – dựa theo tác phẩm “Nhàn cư” “От нечего делать”, 1969) và “Egor Bulychev và những người khác (Егор Булычев и другие, 1971). Vyacheslav Tikhonov bước vào giai đoạn phát triển tài năng rực rỡ nhất. Và trong bộ phim truyền hình “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân” (Семнадцать мгновений весны, 1973) của đạo diễn Tatiana Lioznova, Tikhonov đã đóng vai diễn “ngôi sao” nhất của mình – Isaev-Stirlitz. Thành công của vai diễn này đã đem lại cho Tikhonov sự nổi tiếng chưa từng có (và năm 1976 thì cả Giải thưởng Quốc gia CH LB XHCN Nga): đó là thắng lợi huy hoàng thực sự.

Vyacheslav Tikhonov đã tạo ra một tính cách phức tạp, nhưng đó là tính cách sống, nhân vật Stirlitz của ông thu hút sự chú ý của khán giả trong từng phút tồn tại trên màn ảnh. Trong vai diễn này Tikhonov đã vận dụng toàn bộ các phương tiện diễn xuất của mình: khả năng “giữ” các cận cảnh, khắc họa cuộc sống nội tâm đầy ắp của nhân vật, sự chính xác và cô đọng của từng cử chỉ, điệu mặt, tâm lý tinh tế, và diễn xuất trên những ngụ ý, những sự thay đổi tinh tế của trạng thái, sự hiểu biết sâu sắc đặc điểm công việc của diễn viên trong điện ảnh. Chủ đề nội tâm của nghệ sĩ trong vai diễn này đã nhận được sự thể hiện trọn vẹn, bởi vì nhân vật đã thể hiện được “sự hai mặt”, các tính chất ẩn giấu của tính cách không chỉ một lần như trong các phim trước, mà là thường xuyên. Nhưng đó chưa phải là thành công lớn nhất trong diễn xuất của Tikhonov. Nếu như thời gian điện ảnh và không gian tổ quốc của đại tá Isaev đã hoàn toàn loại trừ khả năng tồn tại trọn vẹn đầy sự sống của Isaev, thì Standartenführer SS Stirlitz lại là một nhân vật khẳng định sự tồn tại , bởi vì trong vai diễn này đại tá Isaev đã sống cuộc sống không phải của mình, một cuộc sống khác gần như bị cấm. Có thể nói rằng Tikhonov và Lioznova đã dường như “kéo dài” nội dung của các bộ phim cuối những năm 1940 như “Đội cận vệ thanh niên” và “Chiến công người lính trinh sát”, họ đã đem lại cho chủ đề cuộc đấu tranh bí mật (bất hợp pháp hoặc tình báo) với bọn phát xít sự kết thúc đầy đủ của thể loại.


Cảnh trong phim “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân“

Trong sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của mình, Tikhonov còn quay trở lại với chủ đề Chiến tranh giữ nước vĩ đại không chỉ một lần: trong bộ ba phim “Mặt trận không có tả hữu dực” (1974), “Mặt trận sau đường chiến tuyến” (1971), “Mặt trận trong hậu phương kẻ thù” (1981) (Фронт без флангов», «Фронт за линией фронта», «Фронт в тылу врага» của đạo diễn I.A.Gostev; trong các bộ phim “Họ chiến đấu vì tổ quốc” (Они сражались за Родину, 1975) của đạo diễn S.F.Bondarchuk).

Năm 1977 Tikhonov thay đổi một chút hướng tìm tòi sáng tạo chính của mình, khi đóng vai chính trong bộ phim “Bim trắng Tai đen” (Белый Бим Черное ухо) của đạo diễn S. I. Rostotsky. Ivan Ivanovich được thể hiện như một nhân vật nguyên vẹn đến nỗi ông đã không cần thiết phải chứng minh điều gì nữa. Vai diễn này đã đem lại giải thưởng Lenin cho nghệ sĩ vào năm 1980, và có lẽ vai diễn này đã trở thành một chiếc âm thoa đặc trưng trong mối quan hệ của Tikhonov với các nhân vật mà sau này ông đóng vai trong các phim “TASS được quyền tuyên bố (ТАСС уполномочен заявить…, 1984) của đạo diễn V.P.Fokin, “Câu chuyện châu Âu” (Европейская история, 1984) của đạo diễn I.A.Gostev, “Giết rồng” (Убить дракона, 1988) của đạo diễn M.A.Zakharov, “Những con quỷ” (Бесы, 1992) của đạo diễn I.V. Talankin, D.I. Talankin, “Bị mệt mỏi bởi mặt trời” (Утомленные солнцем, 1994) của đạo diễn N.S.Mikhalkov và các phim khác.

Ngoài các phim trên, V.V.Tikhonov còn đóng nhiều vai lớn nhỏ trong điện ảnh và truyền hình như “Trong những ngày thanh bình” (В мирные дни, 1950), “Maksimka” (Максимка, 1952), “Trái tim lại đập” (Сердце бьется вновь, 1956), “Vòng quay ngựa gỗ” (Карусель, 1970), “Người từ phía khác” (Человек с другой стороны, 1971), “Chuyện về trái tim con người” (Повесть о человеческом сердце, 1975), “…Và những gương mặt chính thống khác” (… И другие официальные лица, 1976), “Nghỉ phép bằng tiền riêng” (Отпуск за свой счет, 1981), “Những ai chỉ yêu một người” (Однолюбы, 1982), “Kháng cáo” (Апелляция, 1987), “Tình yêu với những ưu tiên” (Любовь с привилегиями, 1989), “Những bóng ma của căn phòng xanh” (Призраки зеленой комнаты, 1991), “Luật mất danh dự” (Кодекс бесчестия, 1993), “Không thể sánh bằng” (Несравненная, 1993), “Buổi benefice tỉnh lẻ” (Провинциальный бенефис, 1993), “Mối tình đường phố” (Бульварный роман, 1994), “Mạo hiểm” (Авантюра, 1995), “Phòng đợi” (Зал ожидания, phim truyền hình nhiều tập, 1995), “Bạn yêu mến của những năm tháng đã quên…” (Милый друг давно забытых лет…, 1996), “Bài luận cho Ngày Chiến thắng” (Сочинение ко Дню Победы, 1997).

Vyacheslav Tikhonov được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô (1974), Anh hùng lao động Xã hội chủ nghĩa (1982), ông cũng được nhận Giải thưởng Quốc gia Lenin, Giải thưởng Quốc gia CH XHCN LB Nga. Ông được tặng huân chương Lenin, huân chương Cách mạng tháng Mười, “Huân chương Danh dự”, “Vì các đóng góp cho Tổ quốc” hạng III. Năm 1993 tại Liên hoan phim quốc tế các dân tộc Slavơ và Chính thống giáo “Dũng sĩ vàng” ông được tặng giải thưởng vì đóng góp cho điện ảnh Sla-vơ.

Năm 2003 Tikhonov được tặng giải thưởng “Đỉnh Olympos dân tộc Nga” trong mục đề cử “Huyền thoại”.

Bộ phim tài liệu của đạo diễn S.Rostotsky “Nghề nghiệp – diễn viên điện ảnh” là bộ phim nói về Tikhonov.

Nhân dịp Tikhonov tròn 75 tuổi, bộ phim tài liệu “17 khoảnh khắc vinh quang” (17 мгновений Славы – chơi chữ, Слава vừa là tên than mật của Tikhonov, vừa có nghĩa là vinh quang). Nhà sản xuất bộ phim là Anna Tikhonova, con gái của ông.

Vyacheslav Tikhonov qua đời ngày 04/12/2009 thọ 82 tuổi. Cả Moskva đã đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Novodevichi trong nền nhạc của “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân”

Aleksandr Shirvindt – diễn viên, đạo diễn và …

Aleksandr Shirvindt

Aleksandr Shirvindt (1934 - )

Ngày 19/7/2009 Aleksandr Shirvindt, chỉ đạo nghệ thuật và đạo diễn chính của Nhà hát trào phúng Moskva tròn 75 tuổi.

Aleksandr Anatolievich Shirvindt sinh ngày 19/7/1934 ở Moskva. Mẹ ông, Raisa Samoilovna, thời trẻ là diễn viên Nhà hát Nghệ thuật Moskva, sau đó làm biên tập viên ở Phòng hòa nhạc Moskva. Cha ông là một nhạc công vĩ cầm trong dàn nhạc Nhà hát Lớn, sau đó giảng dạy ở trường nhạc.

Năm 1956 Aleksandr Shirvindt tốt nghiệp Trường sân khấu mang tên B.V.Schukin

Sau khi tốt nghiệp, Shirvindt được nhận vào đoàn kịch Nhà hát mang tên Komsomol Lenin (ngày nay là Nhà hát Lenkom). Tại đây Shirvindt đã tham gia các vở kịch “Quân đoàn kỵ binh thứ nhất” (Первая Конная) của Vsevolod Vishnevsky, “Tạm biệt, các cậu bé!” (До свидания, мальчики!) của Boris Balter, “Nữ thánh Joan” (Saint Joan) của Bernard Shaw, “Hải âu” (Чайка) của Anton Chekhov, “Molier” của Mikhail Bulgakov, “Ai có phận nấy” (Каждому свое) của Samuil Aleshin “104 trang về tình yêu” (104 страницы про любовь) và “Làm phim” (Снимается кино) của Eduard Radzinsky và các vở kịch khác.

Năm 1968 Aleksandr Shirvindt chuyển sang làm việc Nhà hát Kịch Moskva ở phố Malaya Bronnaya trong vòng hai năm. Trong thời gian này Shirvindt tham gia các vở kịch “Những ngày hạnh phúc của một người không hạnh phúc” (Счастливые дни несчастливого человека) của Aleksei Arbuzov, “Romeo và Juliet” và các vở khác.

Từ những năm sinh viên Aleksandr Shirvindt đã tham gia các buổi văn nghệ cây nhà lá vườn. Vào những năm 1960, Shirvindt cùng các đồng nghiệp của mình – cả trẻ lẫn già đã tạo nên một nhóm “cây nhà lá vườn”, nhóm này tổ chức các buổi “cây nhà lá vườn” nổi tiếng tại Nhà Văn hóa Sân khấu. Shirvindt cũng tham gia tổ chức và tiến hành các buổi diễn kỷ niệm của Rostislav Pliatt, Leonid Utesov.

Từ năm 1970 cho đến ngày nay Aleksandr Shirvindt làm việc tại Nhà hát trào phúng Moskva. Từ tháng12/2000 ông trở thành lãnh đạo nghệ thuật của nhà hát

Tại nhà hát này Shirvindt đã đóng hơn 30 vai diễn. Vai diễn đầu tiên của Shirvindt trong nhà hát này là bá tước Almaviva trong vở “Một ngày điên rồ, hay Đám cưới Figaro” của Beaumarchais (1970). Và vai diễn này là một trong những vai thành công nhất của Shirvindt.

Trong số các vở kịch khác có thể kể đến –“Điều kỳ diệu bình thường” của Evgeny Shvarts, “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol, “Con rận” của Vladimir Mayakovsky, “Khổ vì trí tuệ” của Aleksandr Griboedov, “Vở opera ba xu” của Bertolt Brecht, “Schastlivcev – Neschastlivcev” của Grigory Gorin, “Lời chào từ Cjurupa”của Fazil Iskander, “Andrjusha” của Arkady Arkanov, Aleksandr Shirvindt và những người khác.

Aleksandr Shirvindt cũng được biết đến như một đạo diễn sân khấu. Cùng với Andrei Mironov ông ra mắt khán giả với tư cách đạo diễn dàn dựng vở kịch “Những hài kịch nhỏ của một ngôi nhà lớn” của các tác giả Grigory Gorin và Arkady Arkanov trên sân khấu Nhà hát Trào phúng, cùng với Mark Zakharov dựng vở “Hãy tỉnh giấc và hãy hát”.

Aleksandr Shirvindt

Aleksandr Shirvindt (1934 - )

Shirvindt cũng được biết đến như tác giả, đồng tác giả kịch bản. Trong số các kịch bản này có những vở kịch viết cùng với Grigory Gorin: “Chúng tôi – 50” và “Concerto cho nhà hát và dàn nhạc” và các vở kịch của Shirvindt: “Hãy im lặng, nỗi buồn, hãy im lặng…”, “Spartak” (Mishulin) – “Khán giả”.

Aleksandr Shirvindt cũng là tác giả và đạo diễn dàn dựng các buổi diễn kỷ niệm các nghệ sĩ của Nhà hát Trào phúng, và các buổi biểu diễn kỷ niệm 60, 70, 75 và 80 năm thành lập Nhà hát Trào phúng Moskva

Trên sân khấu tạp kỹ Aleksandr Shirvindt có mặt trong vài vai trò: đạo diễn, người dẫn chương trình, tác giả và diễn viên. Shirvindt là tác giả của tiết mục nổi tiếng – duet của Avdotia Nikitichna (diễn viên Boris Vladimirov) và Veronika Mavrikievna (diễn viên Vadim Tonkov). Shirvindt cũng làm việc với nhiều nghệ sĩ khác như Tarapunka và Shtepsel, Mirov và Novitsky, Lev Shimelov, Vladimir Vinokur và các nghệ sĩ khác. Shirvindt viết các màn độc thoại cho nhiều nghệ sĩ (Vera Maretskaya, Mikhail Pugovkin, Vsevolod Sanaev và các nghệ sĩ khác), các màn độc thoại này được họ trình diễn trên sân khấu tạp kỹ. Trong nhiều năm, chính Shirvindt cũng trình diễn trên sân khấu tạp kỹ, và nổi tiếng cùng với người bạn diễn ăn ý Mikhail Derzhavin.

Aleksandr Shirvindt bắt đầu đóng phim từ năm 1957 trong bộ phim “Cô ấy yêu anh” (Она вас любит). Tuy nhiên Shirvindt thực sự được biết đến rộng rãi nhờ các vai diễn trong các bộ phim “Hãy tới vào ngày mai” (Приходите завтра, 1963), “Thêm một lần nữa về tình yêu” (Еще раз про любовь, 1968), “Số phận trớ trêu” (Ирония судьбы, или С легким паром!, 1975), “Những con én của trời” (Небесные ласточки, 1976), “Ba người trong một chiếc thuyền, không kể con chó” (Трое в лодке, не считая собаки, 1979), “Người bệnh tưởng” (Мнимый больной, 1980), “Buổi chiều mùa đông ở Gagry” (Зимний вечер в Гаграх, 1985), “Người phụ nữ quyến rũ và đáng yêu nhất” (Самая обаятельная и привлекательная, 1985), “Triệu bạc trong giỏ cưới” (Миллион в брачной корзине, 1986), “Giai điệu bị quên lãng cho sáo flute” (Забытая мелодия для флейты, 1987), “Anh chàng lăng nhăng” (Бабник, 1990), “Xin chào, những gã ngốc” (Привет, дуралеи!, 1996). Trong năm 2007 Shirvindt đóng trong phim “Số phận trớ trêu. Phần tiếp theo”.

Từ năm 1958 đến nay Shirvindt giảng dạy nghệ thuật diễn xuất tại Trường sân khấu mang tên B.V.Schukin. Từ năm 1995 ông nhận học hàm giáo sư.

Shirvindt cũng là tác giả của các cuốn sách “Điều đã qua không nghĩ ngợi” (Былое без дум) cùng viết với nhà phê bình nghệ thuật B.Poiurovsky và “Schirwindt bị xóa khỏi mặt đất”.

Aleksandr Shirvindt – nghệ sĩ nhân dân LB Nga, thành viên Hội các nhà hoạt động sân khấu, Hội điện ảnh, thành viên Viện Hàn lâm điện ảnh Nga và nhiều hiệp hội khác.

Ông đã được tặng huy chương Hữu nghị các dân tộc (1994), huy chương “Vì các đóng góp với Tổ quốc” hạng IV (2004).
——–

Bài này mình dịch cũng lâu rồi, từ nguồn RIA Novosti, mà chả hiểu sao chưa đưa lên blog…

Cá nhân mình thì cũng khá thích anh này, mình có cảm giác  (hời hợt sau vài lần xem trên truyền hình và phim ảnh), rằng anh này có cách diễn thông minh, hài hước và trí thức…

Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của người Ý ở nước Nga

– Nina có nhiều nhược điểm, nhưng không phủ nhận được một ưu điểm nổi bật – Nina là bạn của Mèo ngoan!

Mèo ngoan

– Mèo trèo lên một bức tượng nhạc sĩ nổi tiếng thế giới để lấy chỗ đuổi theo một con gián tầm thường.

Lê Thị Liên Hoan

Chiều nay, khi nói chuyện với Mèo ngoan, chợt nhắc đến bộ phim hợp tác Liên Xô – Ý. Và mặc dù Mèo ngoan chỉ muốn tìm link download, nhưng mình lại tìm ra nơi xem online với chất lượng khá ổn … Vừa cùng xem online vừa chat chit về phim, quả là … ngộ.

Còn bộ phim “Невероятные приключения итальянцев в России” (Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của người Ý ở nước Nga) thì quả là một phim rất … vui vẻ một cách hiền lành, đủ để khiến ta cười sảng khoái. Nội dung phim thì cũng không có gì phức tạp. Một signora russa emigrata già hấp hối tại một bệnh viện Roma, khi hấp hối bà kể cho cô cháu Olga duy nhất rằng bà có một kho báu lớn chôn ở Leningrad, dưới sư tử (“подо львом”). Và thế là tất cả những ai biết về bí mật này vội vàng bay tới Leningrad – Olga, hai điều dưỡng Giuseppe và Antonio, một bác sĩ của bệnh viện, một bệnh nhân của bệnh viện với cái chân gẫy và một gã mafioso Rosario Agrò, người cũng tình cở nghe được những lời cuối cùng của signora. Và ở Moscow thì tự dưng lại thêm Andrei một anh guide cũng bị lôi cuốn vào cuộc tìm kiếm phức tạp này…

Trong quá trình tìm kiếm kho báu, “nhóm làm việc” đã tiêu diệt cơ man là sư tử đá (đặc biệt năng suất là anh bạn mafioso Rosario Agrò). Rồi thì họ đào cả dưới chân đài tưởng niệm Lev Tolstoi – cũng là подо львом mà. Tuy nhiên cuối cùng thì hoá ra là kho báu chôn trong Vườn thú Leningrad, trong chỗ dấu bí mật dưới một chuồng sư tử sống. Họ tìm được kho báu và tìm cách thoát khỏi con sư tử – anh chàng sư tử này luôn theo sát người có kho báu…

Bộ phim “Невероятные приключения итальянцев в России” được trình chiếu trên màn ảnh Liên Xô ngày 5/4/1974 và xếp thứ tư về tổng doanh thu trong năm đó. Và độc trong năm đó đã có năm mươi triệu khán giả cười sảng khoái với bộ phim này. Mặc dù Eldar Ryazanov ban đầu thì chẳng thể nhếch mép cười – ông và đồng tác giả Braginsky đã viết kịch bản cho bộ phim hợp tác Liên Xô – Ý từ năm 1970. Khi đó nó có tên là “Spaghetti theo kiểu Nga”. Tuy nhiên Ủy ban phim quốc gia không mặn mà gì với dự án này – người Ý trong phim chẳng gây thiện cảm mấy, cần phải làm lại – điều mà các tác giả chẳng thích chút nào.

Tuy nhiên trong khi ấy, hãng “Dino De Laurentiis” của Ý đang nợ Mosfilm một số tiền khá lớn sau khi sản xuất bộ phim “Waterloo” (1970) của Sergei Bondarchuk. Và chỉ có thể thu hồi nợ nếu có một dự án làm phim hợp tác mới. Thế là kịch bản của Ryazanov và Braginsky lại được xem xét.

– Các vị viết gì mà linh tinh thế! – Dino De Laurentiis tuyên bố. Cần phải có các màn trình diễn ngoạn mục, đuổi bắt trên xe hơi. Chỉ nên để lại con sư tử thật thôi..

Thế là ảo thuật này nối tiếp ảo thuật khác – máy bay hạ cánh xuống đường nhựa, nhảy qua chiếc cầu đang tách ra, rồi thì những màn thót tim với sư tử. Sau khi các đồng tác giả Ý đã tán thành thì họ lại đưa kịch bản cho nhà sản xuất, và nhận được các “đặt hàng” khác – phải có cảnh ở GUM: ở châu Âu khi đó chưa có các cửa hàng to như thế, rồi phải có cảnh các nhân vật ném bánh kem vào nhau, vân vân. Và cuối cùng, khi kịch bản được tán thành từ cả hai phía, thì nó trở thành “Những người Ý ở nước Nga”. Ryazanov đọc kịch bản và hoảng sợ với sự tràn ngập của các màn ảo thuật, ông thốt lên “Tội nghiệp thay cho đạo diễn phải quay bộ phim này”.

Nhưng cuối cùng thì chính Ryazanov lại trở thành đạo diễn. Họ quay 9/10 bộ phim này ở Nga trong vòng có 2 tháng. Chính Ryazanov cũng thừa nhận là chưa bao giờ làm việc với tốc độ như thế.

Họ bắt đầu từ việc chọn diễn viên – các diễn viên Ý do nhà sản xuất chọn, điều này làm Ryazanov ngạc nhiên. Người Ý tiết kiệm trong đủ các chuyện, và chọn diễn viên cũng thế, họ chẳng mời ngôi sao nào cả.

Còn với King – “diễn viên” sư tử cũng là một câu chuyện. “Diễn viên” này chả quan tâm gì đến thời khoá biểu dày đặc của đoàn phim, cũng chả để ý gì đến kinh phí và quan hệ hợp tác Xô – Ý, King chỉ làm những gì cậu ta thích. Ví dụ, King không muốn nhảy qua cửa sổ kho chứa matroska – thế là đoàn phim cứ việc chờ ba đêm. Tới đêm thứ tư thì King thích cái gì đó trong kho, và cậu … nhảy vào.

Cảnh máy bay TU-134 hạ cánh xuống đường nhựa được quay ở sân bay Ulianovsk, tại trường lái máy bay dân dụng. Họ sử dụng ô tô nhẹ, và để các phi công lái xe – trong tình huống khẩn cấp họ định hướng nhanh và chính xác. Tổng cộng máy bay đã hạ cánh 6 lần trong quá trình quay phim, lần nào cũng thành công.

Trong cảnh quay vụ nổ trạm xăng, họa sĩ đã dựng một trạm xăng y như thật, kết quả là khá nhiều xe hơi đã ghé vào đó để nạp nhiên liệu.

Các màn rượt đuổi xe hơi thót tim, các cảnh quay ấn tượng – thời đó họ chưa vẽ trên máy tính – góp phần quan trọng làm nên thành công của bộ phim, không chỉ ở Liên Xô, mà cả ở nước ngoài. Tuy nhiên không thể không nhắc đến diễn xuất của các diễn viên mà đặc biệt là Andrei Mironov – khó có thể hình dung ai khác vào vai chính trong phim này.

Andrei Mironov ít khi chịu cho đóng thế, và trong phim này anh cũng tự đóng tất cả các màn hành động – bò theo cái thang 11 m trên xe cứu hoả đang chạy, nhảy qua cửa sổ tầng 6 của khách sạn “Astoria” bằng tấm thảm trải hành lang, treo lơ lửng trên sông Neva, giữ rìa chiếc cầu đang tách ra ở độ cao toà nhà 20 tầng, còn dưới đó là tàu thuỷ, và tất cả các cảnh với sư tử. Trong cảnh quay “Bên tượng đài nhân mã”, theo kịch bản thì Mironov phải đánh lạc hướng sư tử để “những người Ý” chạy thoát với kho báu. Không có tấm kính nào giữa sư tử và diễn viên, không có dây để giữ sư tử lại khi cần thiết… Và trong mấy đúp, Mironov “kêu gọi lòng tự trọng, mến khách của sư tử” – anh hoàn toàn ứng khẩu, những lời ấy không có trong kịch bản, và sau đó thì hầu như toàn bộ đoạn ứng khẩu ấy đều lên phim. Sau đó Ryazanov nói “Mironov đã đè bẹp sư tử bằng sự quyến rũ của mình”.

Thành công của bộ phim đã khiến cho nam diễn viên chính Andrei Mironov trong năm đó được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú LB Nga. Và đến tận ngày nay các khán giả vẫn có thể sảng khoái thư giãn với bộ phim này.

Neveroyatnye priklyucheniya italyantsev v Rossii (1974)

 “Невероятные приключения итальянцев в России”

Directed by
Franco Prosperi
Eldar Ryazanov

Writing credits
(in alphabetical order)
Emil Braginsky writer
Franco Castellano writer
Giuseppe Moccia writer (as Pipolo)
Eldar Ryazanov writer

Cast (in credits order)
Andrei Mironov … Andrei Vasiliev
Ninetto Davoli … Giuseppe
Antonia Santilli … Olga
Alighiero Noschese … Antonio Lo Mazzo
Tano Cimarosa … Rosario Agrò
Evgeni Evstigneev
Olga Aroseva

rest of cast listed alphabetically:
Gigi Ballista … Dottore (as Luigi Ballista)
Valentin Grachyov (as Valya Grachyov)
Zoya Isayeva (as Z. Isayeva)
King … Lion
Aleksandr Lukyanov
Yuri Mikhajlov (as Yu. Mikhajlov)
Ella Nekrasova (as E. Nekrasova)
Boris Runge
Franca Sciutto
Larisa Vikkel (as L. Vikkel)
Valeri Vinogradov (as V. Vinogradov)

Mấy đoạn trích trong phim

Cảnh khi chiếc xe hơi với Andrei, Antonio và Giuseppe đi xuống sông và bơi theo đáy sông sang bờ bên kia, nước sông ngập mái. Từ dưới nước vọng lên đoạn đối thoại của 2 người Ý:

Giuseppe: Không phải xe hơi, mà là tàu ngầm, cậu nhìn kìa, đẹp quá, y như trong bể cá!
Antonio: Không mở cửa sổ, đồ ba hoa!
Giuseppe: Cẩn thận, cậu đè chết cá giờ!

– Con sư tử đó chẳng hiểu gì bằng tiếng Ý cả
– Làm sao nó hiểu được, nó là sư tử Nga mà!

– Ôi tôi đói quá!
– Con sư tử kia còn đói hơn!

Rosario Agrò
– Nếu cần giết ai, cứ viết thư, tôi sẽ đến ngay!

 

Còn đây là đường link xem online

Download phim có thể ở đây chẳng hạn