Lễ khai mạc Olympics Sochi 2014 – ấn tượng và tinh tế

Lưu Hải Hà (NuocNga.net)

Cô bé có cái tên Nga đầy tính biểu tượng Liubov (Tình yêu) đã đưa khán giả qua toàn bộ lễ khai mạc, kể những giấc mơ của mình, và cuốn hút họ vào cuộc du hành kỳ diệu qua các thế kỷ lịch sử trên lãnh thổ rộng lớn của nước Nga.

Một lễ khai mạc hoành tráng, công phu, long trọng và tinh tế – đó là cảm nhận của rất nhiều khán giả về Lễ khai mạc Olympics mùa đông lần thứ XXII vừa diễn ra hôm qua ngày 07/2/2014 ở thành phố Sochi nước Nga.

Continue reading

Tại sao mình vẫn chưa xem phim “Thiên nga đen”?

Tự dưng hôm nay lên cơn hâm và nghĩ về câu hỏi này.

Nguyên nhân thứ nhất – Natalie Portman. Có thể cô là một diễn viên tốt (mình mới xem hình như là 2 phim do cô đóng vai chính, và cũng chẳng có ấn tượng gì sâu sắc với diễn xuất của cô), nhưng mình không thể nào tự thuyết phục mình rằng nhân vật cô ấy thể hiện là một prima ballerina được. Cái này không cần phải xem phim, chỉ cần nhìn hình ảnh là đủ rồi. Diễn viên ballet chuyên nghiệp nhìn phải khác, dáng phải khác.

Nguyên nhân thứ hai – kịch bản. Nội cái chuyện một cô bé ngây thơ sẽ phù hợp với thiên nga trắng, còn một cô có lối sống phóng túng sẽ phù hợp với vai thiên nga đen là mình không thích rồi. Cái vai kép này đòi hỏi trước hết là kỹ thuật vững, đặc biệt trong phần thiên nga đen, vì những pas phức tạp nhất diễn ra lúc sân khấu đầy diễn viên. Mà nói thực, diễn viên cứ đủ trình độ kỹ thuật là người ta đã có thể dựng vở rồi, còn chuyện cảm xúc thì từ từ sẽ bổ sung, chuyện này là bình thường.

Continue reading

“Hồ thiên nga” – một vở ballet cổ điển, nhiều cách diễn giải

Alastair Macaulay (New York Times)

Người dịch: Lưu Hải Hà

Tất nhiên, chúng ta nhảy múa, là để có niềm vui. Tuy nhiên, ballet vốn được xây dựng trên  sự lưỡng phân của vai trò giới tính (các nữ diễn viên ballet thì đứng trên mũi chân, còn các nam diễn viên thì đóng vai trò hỗ trợ) có một sự xu hướng lãng mạn có thể coi là sâu sắc, thậm chí bi thảm. Vở ballet “Hồ thiên nga” là sự luân phiên giữa các lễ hội (Màn I và III) và bi kịch lãng mạn (Màn II và IV). Sự cổ điển của vở ballet này có thể thể hiện tầm cỡ bi kịch trong những chất liệu từ đó hình thành ballet và các chất liệu này là độc nhất vô nhị, đặc trưng cho vở ballet này. Vở ballet này không chỉ lãng mạn và  quý phái, đó còn là định mệnh và đầy sự hủy diệt. Và  cơn bão mà Tchaikovsky đã tạo ra trong Màn IV cũng mang tầm cỡ vũ trụ như trong vở bi kịch “Vua Lear” của Shakespeare.


Vở “Hồ thiên nga” trên sân khấu Nhà hát Mariinsky

Continue reading

Khai mạc Festival âm nhạc “Những ngôi sao đêm trắng” lần thứ XIX tại nhà hát Mariinsky

Festival âm nhạc “Những ngôi sao đêm trắng” (Звезды белых ночей) lần thứ XIX diễn ra từ ngày 23/05 đến ngày 24/07 tại Sankt-Peterburg, thủ đô phương bắc của nước Nga. Festival mở màn bằng vở diễn đinh của năm – vở “Rượu tình” (L’elisir d’amore) của nhà soạn nhạc người Ý Gaetano Donizetti với sự tham gia của ngôi sao Anna Netrebko trong vai nữ chính Adina và nhạc trưởng Valery Gergiev.

Continue reading

Giselle

Hóa ra bài này mình chưa quẳng lên blog, keke, mọi người vẫn bảo – blog quái gì chả viết gì về mình. Viết thì dễ, nhưng về mình thì có gì hay ho để viết đâu.

Hôm trước ngẫu nhiên trong lúc ngồi uống cà phê ở nhà mình xem được đoạn cuối phim “Dancers” trên kênh HBO. Nội dung phim thì không có gì đặc biệt, nói về một diễn viên ballet với kế hoạch dựng bộ phim “Giselle” của anh ta, và chuyện tình của anh song song với nội dung chính của vở ballet. Mikhail Baryshnikov đóng vai chính, và nhờ đó mình hầu như được xem trọn vẹn vở “Giselle”.

Natalia Bessmertnova trong vai Giselle. Cùng với Mikhail Lavroksy. Đây là lúc Giselle còn hạnh phúc, hạnh phúc vì không biết sự thực…

Dường như mọi thứ đều quen thuộc, có thay đổi một chút, một chút thôi nhưng vẫn rất quen. Vẫn là âm nhạc tuyệt vời của Adam, những bộ trang phục trắng muốt thiên thần của các wilis, vẻ ngây thơ của Giselle, những động tác arabesque, những bước nhảy thanh thoát và tinh tế… Nếu tỏ vẻ khắt khe thì mình có thể nói rằng màn Giselle phát điên thiếu một số variation (mà mình thích, keke), đại loại mình thích có thêm cảm giác nhẹ nhàng không khí của các nữ diễn viên trong màn 2, với lại vai Myrtha, nữ hoàng của các wilis cũng hơi thiếu chút phô diễn tài năng. Tuy nhiên, ấn tượng của mình là rất tốt, thì mình vẫn luôn luôn mến Baryshnikov mà…

Nhưng mà hôm nay mình bỗng dưng lại nghĩ – trời đất ạ, có thể nào Giselle lại cao thượng đến thế? Cái anh chàng Albrecht phụ bạc ấy đã gây ra cái chết của Giselle, khiến cho cô nàng không siêu thoát được mà biến thành wilis sau khi chết, vậy có cần phải cứu anh ta nữa không? Mình là mình chả cao thượng được đến thế đâu…

Serge Diaghilev và cuộc cách mạng 100 năm trước trong ballet

Alastair Macaulay (New York Times)
Lưu Hải Hà dịch

Ngày 18/5/1909, tại Paris, đoàn Ballets Russes – một đoàn ballet chưa bao giờ biểu diễn ở Nga đã trình diễn lần đầu tiên và có thành công vang dội. “Toàn bộ Paris” (các bộ trưởng, các nhà hoạt động xã hội, các nghệ sĩ, các ngôi sao trình diễn, nhà tạo mẫu) đều có mặt, các yếu nhân nước ngoài cũng thế. Sau màn ballet thứ hai, những điệu múa của người Polovts từ vở opera “Công tước Igor” của Borodin, khán giả đã tràn đầy cánh gà. Các diễn viên múa còn đang khởi động cho màn ballet cuối cùng thấy mình được hàng trăm cặp mắt người Paris chiêm ngưỡng, điều báo hiệu rằng – chuyến biểu diễn này đã trở thành lịch sử.
Serge Diaghilev, người sáng lập và động lực phát triển của Ballets Russes, năm 1916

Mặc dù bất ngờ tuyệt đối mà người Pháp gọi là cuộc cách mạng bắt đầu ở nhà hát, hơn là ở phạm trù mỹ học. Đó là đỉnh điểm của một tập thể nghệ thuật. Trong mỗi tiết mục, các vũ công, âm nhạc và dàn dựng đều ở đỉnh cao, họ kết hợp lại trong một sự hài hòa khác nhau, nhưng hoàn hảo. Vài thập kỷ trước đó, Wagner đã đề xuất một công việc chung của nghệ thuật (Gesamtkunstwerk), trong đó âm nhạc, dàn dựng và nội dung kịch tính phối hợp lại với tỷ lệ như nhau. Nhưng khi đó, Serge Diaghilev, nhà điều hành của Ballets Russes đã cho công chúng ba Gesamtkunstwerk trong một buổi tối, với chất lượng của chuyển động mà không một opera nào của Wagner đã từng được biết. Diaghilev làm điều này suốt 21 mùa diễn, và chỉ dừng lại khi ông qua đời năm 1929.

Lần kỷ niệm 100 năm buổi trình diễn ra mắt của Ballets Russes được đánh dấu bởi những triển lãm, hội thảo và trình diễn từ Salt Lake City cho tới Sydney. Điều này là có thể vì năm nay sẽ có nhiều sự kiện để vinh danh đoàn múa của Diaghilev cũng như lần kỷ niệm lớn trước, nhân dịp 50 năm ngày mất của ông năm 1979. Và trong 30 năm qua, tất nhiên là đánh giá của chúng ta đối với Ballets Russes đã thay đổi.

Năm 1979, khi một số người đã từng làm việc với Diaghilev vẫn còn sống, thì người này thống kê số lượng các vở diễn của Ballets Russes, người khác đưa lên sân khấu năm nay hoặc trong chương trình sắp tới, theo công thức nổi tiếng về sự thống nhất giữa dàn dựng, âm nhạc và vũ điệu chói lọi trong nhà hát. Hai vở ballet tốt nhất do Léonide Massine biên đạo là hình ảnh thu nhỏ điều này “La Boutique Fantasque” (một vở hài hước về búp bê và người, dàn dựng bởi André Derain trên nền nhạc Rossini với Ottorino Respighi phối khí) và “Le Tricorne” (một tác phẩm Tây Ban Nha của nhạc sĩ Manuel de Falla và họa sĩ Picasso).

Trong thời kỳ cuối những năm 70, đầu những năm 80 tôi đã thấy những lần diễn tốt cả 2 vở này ở London (nơi mà Diaghilev đã trình diễn chúng lần đầu tiên trên thế giới năm 1919).

Massine trở thành biên đạo múa trong đoàn của Diaghilev năm 1915. Tất cả các vở ballet của Massine đều phụ thuộc vào các dàn dựng xuất sắc (ba trong số đó có sự hợp tác với Picasso) – được xây dựng trên cơ sở các thành công của Ballets Russes trước Thế chiến I. Từ năm 1909 đến năm 1913 Alexandre Benois, Léon Bakst, Nikolai Roerich và các họa sĩ Nga xuất sắc khác đã đã đưa khía cạnh hình ảnh của ballet lên tới đỉnh cao chưa từng có. Stravinsky đưa âm nhạc qua một loạt những cách mạng trong tổng phổ của ông cho các vở “Chim lửa” (The Firebird, 1910), “Petrouchka” (1911), and “Mùa xuân thần thánh” (“The Rite of Spring,” 1913). Một số vở ballet thời kỳ này được trình diễn bởi các nam diễn viên ballet hàng đầu thời bấy giờ (thường thường, mặc dù không phải luôn luôn, là Vaslav Nijinsky), họ đem vào một khía cạnh nào đó của gợi cảm và trữ tình. Ballet trở nên gợi cảm một cách cách tân, hình ảnh lộng lẫy hơn, và về mặt kịch tính cũng phức tạp và thách thức hơn.

Vaslav Nijinsky trong vở “Giấc ngủ trưa của thần đồng áng” năm 1912

Tất nhiên là hiện nay một số các dàn dựng ấy chỉ còn giữ được giá trị lịch sử. Vở “Scheherazade” của Michel Fokine (1910) hiện giờ chỉ giống như một bộ phim câm được đệm bằng giai điệu cảm xúc của Rimsky-Korsakov, không ai coi đó là một vở ballet có kịch tính nghiêm túc. Những màu đậm nổi tiếng trong trang phục của Bakst thiết kế trông vẫn đẹp ấn tượng trong sách, nhưng không hài hòa trong mỗi lần phục hồi trên sân khấu.

Cảnh nóng trung tâm trong vở “Petrouchka” của Fokine – trong đó kịch tính nhiều lớp của vở ballet đã chuyển thành vết thương tâm lý, và chính cảnh này đã là cơ sở cho Sarah Bernhardt (diễn viên kịch nói lừng danh thời đó) gọi Nijinsky là “diễn viên tuyệt vời nhất thế giới” bây giờ trông có vẻ kỳ quặc: ý tưởng thú vị ấy chưa bao giờ chuyển động thật sự. Tất nhiên là vẫn còn một số người hoan nghênh “Petrouchka” như một vở ballet lớn nhất của Diaghilev, một tổng hòa tuyệt vời của âm nhạc, trang phục và biên đạo. Chắc chắn là trang phục của Benois trong vở ballet của Stravinsky vẫn còn rất hợp. Các cảnh đám đông vẫn có thể có một giới hạn rộng trong các chi tiết của các tính cách màu sắc như trong ballet đạt được. Nhưng kịch tính của ballet thì đã không được phát triển hàng thập kỷ.

Trong một biểu diễn thành công tại Royal Ballet ở London, vở “Chim lửa” do Fokine biên đạo vẫn có thể làm say đắm như một câu chuyện tường thuật. Trong phần kết, không ai múa lấy một bước: quá nhiều diễn viên quần chúng trở thành đám đông bất động trong lễ đăng quang của nhà vua. Hoạt cảnh con người này, sự tráng lệ của âm nhạc của Stravinsky và quang cảnh thành phố Nga đầy màu sắc của Natalia Gontcharova năm 1924 (do Diaghilev ủy thác thay thế dàn dựng ban đầu năm 1910) đã cùng tạo nên một hiệu ứng tuyệt vời, khiến chúng ta cảm nhận được tại sao câu chuyện phiêu lưu của những cảnh đầu tiên của vở ballet này lại bất ngờ biến thành câu chuyện nghi lễ (khi đoàn Ballet hoàng gia lần đầu tiên diễn cảnh này ở Moscow năm 1961, khán giả đã vỗ tay cùng với nhạc, họ cảm nhận được rằng đó là câu chuyện của họ).

Các vở ballet của Fokin “Les Sylphides” (1909) và “Chim lửa ” có lẽ là hai vở duy nhất của Ballets Russes giai đoạn trước 1913 mà vẫn còn có sự thuyết phục sân khấu trong suốt thời gian tồn tại. Cũng có thể bổ sung “Polovtsian Dances” cũng do Fokin biên đạo vào danh sách này. Một số thì chắc là sẽ bổ sung thêm “Giấc ngủ trưa của thần đồng áng” do Nijinsky biên đạo và biểu diễn vào danh sách này nữa. Tuy nhiên các buổi biểu diễn riêng biệt thay đổi khá nhiều trong quá trình phát triển của mình.

Ngoài những chuyện khác, thì Diaghilev còn là một người … học làm sang, và một phần trong số những … huyền thoại gây tranh cãi bao quanh Ballets Russes nhằm mục đích quảng bá tên tuổi. Người ta sẽ muốn được chứng kiến kết quả sự hợp tác của Picasso-Stravinsky (“Pulcinella,” 1920) cũng như muốn được có mặt trong số những khán giả của đêm diễn đầu tiên năm 1909 (trong đêm đó có Isadora Duncan, Chaliapin, Rodin và Ravel)

Phải, có những con đường trong đó thành tựu của Diaghilev ngày nay trông có vẻ ấn tượng hơn bao giờ hết. Một người có óc thẩm mỹ tinh tế từ thời trẻ, nhưng chưa bao giờ là một nghệ sĩ sáng tạo, Diaghilev đã tiến hành những thay đổi cách mạng cả trong nghệ thuật lẫn mỹ học. Khi Diaghilev đương nhiệm, khán giả tới buổi biểu diễn ballet để nhìn và nghe những điều mới, để suy ngẫm lại những gì đã có, và trên hết là thực hiện sự kết hợp mới giữa phong cách và nội dung. Và phong cách, vốn hết sức khác biệt đối với mỗi vở ballet, lại trở thành nội dung. Các chủ đề như những búp bê múa và các nhân vật của hài kịch dell’arte, những khía cạnh của quá khứ thô sơ của nước Nga và của văn hóa triết học phương Tây – những điều này lặp lại rất nhiều trong danh mục tác phẩm biểu diễn của Ballets Russes. Và không ai than vãn vì phải diễn tập nhiều quá – các cuộc diễn tập lần này và lần khác hết sức khác nhau. Và một vài phiên bản sau đó của các chủ đề này vẫn còn đang chịu phép thử của thời gian.

Hiện nay dường như đã thành mốt nhận định rằng những vở ballet sau năm 1914 của Diaghilev, đặc biệt là những vở diễn sau năm 1921 ở mức độ thấp hơn so với các vở ballet trước đó. Nhà soạn nhạc và phê bình người Anh Constant Lambert đã viết về Diaghilev: “Trước chiến tranh ông ấy tạo nên mốt cho ballet Nga, nhưng sau chiến tranh thì ông chỉ đơn thuần tạo ra mốt chỉ vì mốt”.

Tất nhiên đó không phải lý do vì sao Ballets Russes vẫn còn trong các vở diễn ngày nay. Bốn vở ballet của Diaghilev được phục hồi lại từ lần diễn những năm 1920: “Les Noces” (1923) và “Les Biches” (1924) bởi Nijinska, “Apollo” (1928) và “The Prodigal Son” (1929) bởi Balanchine. Cả bốn vở đều công diễn ở Mỹ trong năm nay.

Ngoài ra, những vở này còn thách thức quan niệm thông thường rằng các vở ballet tốt nhất của Diaghilev là sự phối hợp hài hòa của bài trí sân khấu, âm nhạc và vũ điệu. Trong khi các vở ballet của Massine hoàn toàn vô nghĩa nếu thiếu bài trí sân khấu nguyên gốc của chúng, thì vở “Apollo” của Balanchine – một trong những vở ballet có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 – lại gần như trở thành vô nghĩa với toàn bộ bài trí sân khấu nguyên gốc ấy. Balanchine bắt đầu trình diễn “Apollo” với dàn dựng mới trong những năm 1930 và một thời gian lâu sau đó đã khiến công chúng quen với việc “Apollo” trình diễn với bài trí sân khấu tối thiểu. Những người hâm mộ các tác phẩm hội họa của Gontcharova không cần phải bỏ nhiều thời gian để ngắm những bài trí sân khấu câm lặng của nữ họa sĩ cho vở “Les Noces” (“The Wedding”); nữ họa sĩ muốn cho vở ballet diễn ra trong những màu sắc sáng tươi, nhưng Nijinska đã thắng thế. Vở ballet này cho thấy xã hội như một cỗ máy nghiền nát những cô dâu và chú rể thụ động, và là một trong những thành tựu lớn nhất của mọi nhà hát vũ kịch, và sự nguyên tác bài trí sân khấu cứng đờ không giúp được gì cho việc này.

Những màu phấn của Marie Laurencin và trang phục những năm 1920 chắc chắn làm cho vở “Les Biches” trở nên sang trọng hơn, nhưng chúng không phải là quá quan trọng. Điều gì đã làm một vở kịch về sự phù phiếm và nhập nhằng khiến người ta ghi nhớ – đó chính là sự liên hệ chặt chẽ giữa vũ điệu và âm nhạc của Poulenc. Prokofiev than phiền về biên đạo của Balanchine đối với âm nhạc của ông trong vở “The Prodigal Son”; ông đối mặt với một thứ gì đó hiện thực hơn nhiều (giống như “Petrouchka” của Fokine). Hậu thế thì lại phủ nhận ông: biên đạo của Balanchine vẫn còn đưa ra chi tiết trong tổng phổ.

Cả Les Biches” lẫn “The Prodigal Son” đều bao gồm những hình ảnh từ các vở diễn trước đó của Ballets Russes: chàng thanh niên trẻ trung và người đàn bà quyến rũ trần tục. Trong hai vở ballet này, những khuôn mẫu ấy trở thành vai trò chủ đạo. Âm hưởng chính của “Les Biches” là châm biếm, hiện đại, bà chủ nhà, cầm điếu thuốc lá dài, mặc chiếc váy-ngọc trai kêu lách cách khi bà ta múa, và những cậu bé thể thao bãi biển tuyệt nhiên không hề rực sáng. Nijinska đã sắp đạt cho họ các điệu múa chặt chẽ – chân họ cắt kéo trong không trung – điều này làm cho họ giống như các nhân vật trong các truyện thời trẻ của Evelyn Waugh (nhà văn hài hước người Anh). Trong “The Prodigal Son”, thì Siren, còn cường tráng hơn cả Đứa con hoang đàng, cuốn quanh anh ta như một con rắn.

Trong cuộc đời mình Diaghilev đã biến đổi tình cảm Nga của mình vốn xuất phát từ quá khứ văn hóa của người Nga, giới thiệu cho nước Nga những gì xảy ra chung quanh, giới thiệu cho phương tây những gì đang xảy ra ở Nga, và cuối cùng thì giới thiệu với phương Tây những biểu lộ mới nhất của chính phương Tây. Và trong nhiều trường hợp, ông phát biểu với quyền lực như một nguyên thủ có khả năng thúc đẩy nền móng của văn hóa thế giới. Năm 1905, ở St. Petersburg, Diaghilev nói “Chúng ta là nhân chứng của một trong những thời khắc vĩ đại nhất trong lịch sử, vào thời khắc gọi tên một văn hóa mới, còn chưa được biết, văn hóa do chúng ta tạo nên, và sẽ còn quét sạch chúng ta đi”. Năm 1920 thì ông nói “Chủ nghĩa cổ điển, giống như mọi thứ khác, đang tiến triển”. Và bổ sung thêm. “Những tòa nhà chọc trời cũng có chủ nghĩa cổ điển của riêng mình, chúng là các cung điện trong thời đại của chúng ta. Chủ nghĩa cổ điển nghĩa là tài sản, chứ không phải là kết thúc”.

Khi Balanchine dựng vở “Apollo” của Stravinsky cho Ballets Russes năm 1928, Diaghilev quan sát các buổi tập, chứng kiến rằng thứ ballet hiện đại này vượt lên truyền thống của ballet thế kỷ 19 của Petipa và nhận xét: “Những gì Balanchine đang làm thật là tuyệt diệu. Đó là chủ nghĩa cổ điển thuần túy mà chúng ta chưa từng thấy sau Petipa”. Vở ballet “Người đẹp ngủ trong rừng” (Sleeping Beauty) vẫn còn rất mới khi chàng thanh niên 18 tuổi Diaghilev mới tới St. Petersburg vào năm 1890. Năm 1928, Diaghilev đã ở gần cuối đời, nhưng ông vẫn có thể thấy được điều này, nhờ lao động của mình, mặc dù ông không nói ra điều đó – chủ nghĩa cổ điển quả thực đang tiến triển.

Nữ diễn viên ballet nổi tiếng Olga Lepeshinskaya qua đời

Lưu Hải Hà (NuocNga.net)

Theo RIA Novosti

Olga Lepeshinskaya. Tranh của họa sĩ Aleksandr Gerasimov

Olga Lepeshinskaya. Tranh của họa sĩ Aleksandr Gerasimov

Nữ diễn viên ballet nổi tiếng Olga Lepeshinskaya đã qua đời hôm thứ bảy 20/12 ở Moskva, thọ 92 tuổi.

Olga Lepeshinskaya sẽ an nghỉ ở nghĩa địa Vvedennsky ở Moskva bên cạnh các nấm mồ của người thân.

Olga Lepeshinskaya sinh ngày 15 (28) tháng 9 năm 1916. Năm 1933, sau khi tốt nghiệp Trường Múa Moskva, Lepeshinskaya vào làm việc ở Nhà hát Lớn, và ngay lập tức đứng vào hàng ngũ các diễn viên múa hàng đầu của đoàn múa.

Năm 1933 Lepeshinskaya múa vai chính trong vở ballet “Thận trọng uổng công”. Còn năm 1935, lần trình diễn đầu tiên vở ballet “Ba anh béo” do Igor Moiseev dàn dựng đã thành công rực rỡ. Vở diễn đã được cả khán giả lẫn các nhà phê bình đánh giá rất cao, và Lepeshinskaya trở thành nổi tiếng.

Tháng 2 năm 1940 Nhà hát Lớn công diễn lần đầu tiên vở ballet “Don Quixote” trong dàn dựng mới. Lepeshinskaya múa vai Kitri. Vở ballet này đã thành công rực rỡ đến nỗi tháng 3/1941 Lepeshinskaya được nhận Giải thưởng Stalin hạng nhất – cho những đóng góp vào nghệ thuật ballet.

lepesh01

Ngày 21/11/1945 trên sân khấu Nhà hát Lớn công diễn vở mới lần đầu tiên sau chiến tranh – vở ballet “Lọ Lem” của nhạc sĩ S.Prokofev do Lepeshinskaya đóng vai chính. Vai diễn này đã đem lại giải  thưởng Stalin thứ hai cho bà năm 1946. Còn vào tháng 4/1947 Nhà hát Lớn dàn dựng lại vở “Ngọn lửa Paris”. Lepeshinskaya được phân vai Jeanna – cô con gái của bác nông dân khổ cực bị phá sản Gaspar. Với vai diễn này Lepeshinskaya đã nhận được giải thưởng Stalin thứ ba. Còn giải thưởng Stalin thứ tư được trao cho bà vào cuối năm 1949 – cho vai chính trong vở ballet dàn dựng lại “Hoa anh túc đỏ”. Năm 1951 Olga Lepeshinskaya được trao tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân Liên Xô.

Năm 21 tuổi Lepeshinskaya nhận được huy chương đầu tiên, còn năm 24 tuổi được bầu làm đại biểu Ủy ban nhân dân thành phố Moskva. Và sau đó thì sự nghiệp ballet rất thành công của bà luôn song hành với hoạt động xã hội sôi nổi. Bà đã từng đảm nhận các chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban phụ nữ xô-viết, Phó chủ tịch ban điều hành Cung các nhà hoạt động nghệ thuật trung ương, từ năm 1996 – chủ tịch, còn từ năm 2003 – chủ tịch danh dự.

lepeshinskaya_2

Lepeshinskaya làm việc tích cực ở Hội Hữu nghị và liên kết văn hóa với các nước khác, bà là thành viên ban chấp hành, phó chủ tịch “Hội hữu nghị” với Nhật Bản, Mỹ, Thụy Điển và Hungary. Năm 1997 bà trở thành giáo sư của Học viện nghệ thuật sân khấu Nga, và trong những năm cuối đời không ít lần là chủ tịch hội đồng thi quốc gia của khoa biên đạo múa học viện này.

Trong những năm chiến tranh, Lepeshinskaya là một trong những thành viên tích cực nhất trong các đội lưu diễn mặt trận của Nhà hát Lớn.

Năm 1962 Lepeshinskaya kết thúc sự nghiệp diễn viên ballet và bắt đầu hoạt động giảng dạy. Bà đã giảng dạy ở Ý, Đức, Thụy Điển, Hungary, Áo, Nam Tư, Nhật Bản, Philippin và các nước khác.

Trong nhiều năm bà là chủ tịch Ban tổ chức Cuộc thi ballet quốc tế ở Moskva, và sau đó – chủ tịch danh dự. Từ năm 1991 bà là chủ tịch Hội múa nước Nga

Ngoài các giải thưởng Stalin, Olga Lepeshinskaya còn được tặng thưởng huân chương Lenin, huân chương Cách mạng Tháng Mười, hai huân chương Lao động Cờ đỏ, huy chương “Danh dự”, “Vì đóng góp cho Tổ quốc” hạng ba, huy chương “Vì cuộc bảo vệ Moskva”, “Vì lao động dũng cảm trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”, các huân huy chương của Albamnia, Đức, Hungari, Rumani, Thụy Điển, Nam Tư, Philippin. Lepeshinskaya cũng được tặng Thập tự hổ phách lớn của Viện nghiên cứu nghệ thuật và biểu diễn âm nhạc Nga.

Ngày 20/12/2008 Olga Lepeshinskaya qua đời.

Natalia Bessmertnova – vũ điệu ba lê ma thuật

Không hiểu sao mình lại không đăng cái bài này lên blog – vì khi dịch nó xong đã quá khuya chăng? Hay tại mình buồn quá, khi đời lại mất đi thêm một vẻ đẹp.

Lần mình được xem Natalia Bessmertnova đầu tiên và cũng là nhiều nhất – đó là 19-21/8/1991. Đó là những ngày ГКЧП, khi mà trên kênh truyền hình trung ương của Liên Xô khi đó chỉ toàn là Tin tức thời sự và … Hồ thiên nga, vở ba lê do Natalia Bessmertnova đóng vai chính.

Và thế là Natalia Bessmertnova trở thành một người tham gia sự kiện bi kịch khi đó ….

Đến nỗi một thời gian rất dài sau đó, các kênh truyền hình ở SNG không dám phát lại bộ phim Hồ thiên nga này …

Còn mình, mình hồi đó cũng chưa quan tâm tìm hiểu lắm về âm nhạc cũng như ba lê. Mình chỉ thấy Hồ thiên nga rất đẹp. Và đặc biệt là thiên nga trắng – Odetta, một vẻ đẹp trong trắng đến thuần khiết.

Tất nhiên là mãi sau này thì mình mới hiểu được vẻ đẹp của thiên nga đen – Odille, một vẻ đẹp định mệnh. Nhưng thiên nga trắng vẫn quyến rũ, như một ảo ảnh….

Và bây giờ, thiên nga trắng ấy, Natalia Bessmertnova đã vĩnh viễn rời cõi trần…

Cầu cho đôi cánh thiên nga đưa bà đến thiên đường nhé, Natalia Bessmertnova!

Natalia Bessmertnova – vũ điệu ba lê ma thuật

Photo: Frederika Davis, 1963

Nữ diễn viên ba lê Nga lừng danh thế giới, Natalia Bessmertnova đã qua đời ngày 19/2.

Bà đã qua đời tại một bệnh viện Matxcơva, thọ 67 tuổi sau một thời gian dài bệnh nặng.

Bessmertnova đã đi vào lịch sử ba lê trong một chòm sao của các nữ diễn viên xuất sắc, ngang hàng với các huyền thoại Marina Semenova và Galina Ulanova

Natalia Bessmertnova sinh ngày 19/7/1941 ở Matxcơva. Trong gia đình không có ai là nghệ sĩ – cha cô là bác sĩ, còn mẹ làm nội trợ. Tuy nhiên từ sớm cô bé Natasha đã yêu thích múa và quan tâm đến ba lê, chính vì vậy mà vào năm 1953 cha mẹ cô đã gửi cô vào học tại Trường Múa Matxcơva. Năm 1961 sau khi tốt nghiệp Trường Múa thì Natalia Bessmertnova được nhận vào đoàn múa của Nhà hát Lớn, và bà đã làm việc ở đây cho tới năm 1995

Từ những bước đi đầu tiên ở Nhà hát Lớn thì nữ diễn viên ba lê trẻ tuổi đã cho thấy tài năng lãng mạn. Lần ra mắt khán giả chính thức của Bessmertnova là điệu waltz thứ bảy và mazurka trong “Chopiniana” của biên đạo múa M. Fokin, và Bessmertnova cũng đóng vai chính trong vở ba lê hiện đại “Những trang cuộc đời”, nhạc của A.I.Balanchivadze, biên đạo L.M.Lavrovsky. Bạn diễn của Bessmertnova trong vở này là Mikhail Lavrovsky, họ bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật đồng thời.

Sau này bạn diễn của Bessmertnova là các vũ công giỏi nhất của Nhà hát Lớn: Aleksandr Lavrenjuk, Yuri Bogatyrev, Yuri Vladimirov, Aleksandr Godunov, Maris Liepa.

Cuộc đời nghệ thuật của Bessmertnova chỉ có thể nói là rất hạnh phúc: trên sân khấu Nhà hát lớn Natalia Bessmertnova đã đóng vai chính trong các vở ba lê cổ điển – “Hồ thiên nga”, “Kẹp hạt dẻ”, “Người đẹp ngủ trong rừng”, “Raymonda”, “Don Kihote”.

Một trong những vai diễn thành công nhất của Natalia Bessmertnova là Giselle trong vở ba lê cùng tên. Nhà hát Lớn có đi lưu diễn ở đâu đi nữa, thì vai diễn này của Bessmertnova luôn đem lại thành công rực rỡ, và nữ diễn viên ba lê đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng thế giới. Bessmertnova có hình thức bề ngoài hiếm thấy đối với một nữ diễn viên ba lê lãng mạn: những đường nét hơi kéo dài của cơ thể mềm dẻo, đôi tay duyên dáng và rất biểu cảm. Cùng lúc đó, Bessmertnova vẫn có khả năng diễn tả mềm dẻo thế giới nội tâm các nhân vật trên sân khấu của mình, và cảm thụ tinh tế phong cách của các vở ba lê khác nhau.

Trong những phản hồi đầu tiên về Bessmertnova, người đã được các nhà phê bình để ý từ những vai diễn nhỏ nhất, người ta có thể gặp từ “ma thuật”. Điều này không thể diễn tả bằng lời, nhưng nó cho thấy, trên sân khấu có một “báu vật hiếm thấy”. Bessmertnova có một phong cách lãng mạn bẩm sinh, điều mà không thể học, luy
ện tập mà có được

Natalia Bessmertnova đóng vai chính trong tất cả các vở kịch Yuri Grigorovich dàn dựng. Đối với ông, bà vừa là vợ, vừa là nàng thơ. Ông đã tạo cho bà vai diễn trong các vở như “Ivan Lôi đế”, “Angara”, “Romeo và Juliet”, “Thế kỷ vàng”

Besstmertnova cũng đóng vai Leili trong vở ba lê “Leili và Medzhnun” của S.Balasanian, biên đạo K.Goleizovsky (1964), Maria trong “Đài phun nước Bakhchisarai” của B.Asafev, biên đạo R.Zakharov, Thiếu nữ trong “Mơ thấy hoa hồng” (Видение розы) của M.Fokin, âm nhạc K.Weber (1967), Juliet trong “Romeo và Juliet” (Bessmertnova đã đóng trong cả hai phiên bản dàn dựng cả của L.Lavrovsky và Yu.Grigorovich), Kitry trong “Don Kihote”, Aurora trong “Người đẹp ngủ trong rừng”.

N.Besstmertnova là người múa vai Juliet đầu tiên trong vở ba lê “Romeo và Juliet” của nhạc sĩ S.Prokofev, Anastasia trong vở “Ivan Lôi đế” âm nhạc cũng của S.Prokofev, do Yu.Grigorovich dàn dựng tại nhà hát Opera ở Paris (1976 và 1978).

N.Besstmertnova đã đóng trong các vở ba lê truyền hình “Romeo và Juliet” (1968), tham gia việc đưa lên màn ảnh các vở ba lê “Giselle” (1975), “Chopiniana” (1977), trong các bộ phim – ba lê “Spartacus” (1976), “Thế kỷ khủng khiếp” (“Грозный век”, theo vở ba lê “Ivan Lôi đế”, 1977). Cuộc đời nghệ thuật của N.Besstmertnova được thể hiện trong bộ phim truyền hình “Cuộc đời trong vũ điệu” (1978).

Sau khi rời Nhà hát Lớn, N.Besstmertnova làm huấn luyện viên ba lê (балетмейстер репетитор) trong tất cả các vở kịch mà Yu. Grigorievich dàn dựng tại các thành phố khác nhau ở Nga và các nước khác.

Năm 1995 N.Besstmertnova ký hợp đồng với Trung tâm nghệ thuật biểu diễn Thế giới ở London, theo hợp đồng này bà là giám đốc ba lê của Trung tâm.

Vì những đóng góp vào nghệ thuật múa N.Besstmertnova đã được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô (1976), Giải thưởng Lenin (1986) và Giải thưởng Quốc gia Liên Xô (1977). Bà đã được nhận Giải nhất tại cuộc thi quốc tế các nghệ sĩ ba lê ở Varna (Bungaria, 1965) và giải thưởng Anna Pavlova của Viện Nghệ thuật Múa Paris (1970). Năm 1977 bà được tặng giải thưởng “David” (thành phố Taormina, Italy).

Natalia Bessmertnova qua đời ngày 19/2/2008 ở Matxcơva.

Biên đạo múa huyền thoại Igor Moiseev qua đời

N.D. (NuocNga.net)
Theo báo chí Nga


Biên đạo múa huyền thoại Igor Moiseev, người sáng lập và lãnh đạo Đoàn nghệ thuật múa dân gian quốc gia Nga đã qua đời sáng ngày 2/11, thọ 101 tuổi.

Moiseev đã trở thành người đặt nền móng cho một hình thức đặc biệt trong nghệ thuật biên đạo – ông đã đưa điệu múa dân gian đến mức hoàn thiện, đặt điệu múa dân gian ngang hàng với các tác phẩm cổ điển dân gian.

Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô Igor Moiseev sinh ngày 21/1/1906 ở Kiev, sau đó ông cùng gia đình tới Poltava, rồi sau đó tới Matxcơva. Ông theo học lớp múa ba lê của V.I.Masolova, sau đó tại Trường Múa Nhà hát Lớn trong lớp của A.A.Gorsky.

Sau khi tốt nghiệp trường Múa, ông được nhận làm diễn viên solo của Nhà hát Lớn, và ông cũng bắt đầu hoạt động biên đạo của mình ở đây với các vở diễn “Salambo”, “Ba anh béo”, “Spartak”. Tuy nhiên càng ngày folklore càng quyến rũ ông hơn. Igor Moiseev đã viết thư cho Molotov với đề xuất tổ chức đoàn nghệ thuật múa dân gian. Và nhận được câu trả lời: “Đề xuất tốt. Giao cho tác giả thực hiện”. Ngày 10/2/1937 buổi tập đầu tiên của Đoàn nghệ thuật múa dân gian quốc gia Liên Xô đã diễn ra. Và thế là một tập thể nghệ thuật độc nhất vô nhị thế giới ra đời.

Lễ viếng Igor Moiseev sẽ được tổ chức ngày 6/11 tại Phòng hòa nhạc mang tên Traikovsky.

Bài có liên quan