Lễ khai mạc Olympics Sochi 2014 – ấn tượng và tinh tế

Lưu Hải Hà (NuocNga.net)

Cô bé có cái tên Nga đầy tính biểu tượng Liubov (Tình yêu) đã đưa khán giả qua toàn bộ lễ khai mạc, kể những giấc mơ của mình, và cuốn hút họ vào cuộc du hành kỳ diệu qua các thế kỷ lịch sử trên lãnh thổ rộng lớn của nước Nga.

Một lễ khai mạc hoành tráng, công phu, long trọng và tinh tế – đó là cảm nhận của rất nhiều khán giả về Lễ khai mạc Olympics mùa đông lần thứ XXII vừa diễn ra hôm qua ngày 07/2/2014 ở thành phố Sochi nước Nga.

Continue reading

Tại sao mình vẫn chưa xem phim “Thiên nga đen”?

Tự dưng hôm nay lên cơn hâm và nghĩ về câu hỏi này.

Nguyên nhân thứ nhất – Natalie Portman. Có thể cô là một diễn viên tốt (mình mới xem hình như là 2 phim do cô đóng vai chính, và cũng chẳng có ấn tượng gì sâu sắc với diễn xuất của cô), nhưng mình không thể nào tự thuyết phục mình rằng nhân vật cô ấy thể hiện là một prima ballerina được. Cái này không cần phải xem phim, chỉ cần nhìn hình ảnh là đủ rồi. Diễn viên ballet chuyên nghiệp nhìn phải khác, dáng phải khác.

Nguyên nhân thứ hai – kịch bản. Nội cái chuyện một cô bé ngây thơ sẽ phù hợp với thiên nga trắng, còn một cô có lối sống phóng túng sẽ phù hợp với vai thiên nga đen là mình không thích rồi. Cái vai kép này đòi hỏi trước hết là kỹ thuật vững, đặc biệt trong phần thiên nga đen, vì những pas phức tạp nhất diễn ra lúc sân khấu đầy diễn viên. Mà nói thực, diễn viên cứ đủ trình độ kỹ thuật là người ta đã có thể dựng vở rồi, còn chuyện cảm xúc thì từ từ sẽ bổ sung, chuyện này là bình thường.

Continue reading

“Hồ thiên nga” – một vở ballet cổ điển, nhiều cách diễn giải

Alastair Macaulay (New York Times)

Người dịch: Lưu Hải Hà

Tất nhiên, chúng ta nhảy múa, là để có niềm vui. Tuy nhiên, ballet vốn được xây dựng trên  sự lưỡng phân của vai trò giới tính (các nữ diễn viên ballet thì đứng trên mũi chân, còn các nam diễn viên thì đóng vai trò hỗ trợ) có một sự xu hướng lãng mạn có thể coi là sâu sắc, thậm chí bi thảm. Vở ballet “Hồ thiên nga” là sự luân phiên giữa các lễ hội (Màn I và III) và bi kịch lãng mạn (Màn II và IV). Sự cổ điển của vở ballet này có thể thể hiện tầm cỡ bi kịch trong những chất liệu từ đó hình thành ballet và các chất liệu này là độc nhất vô nhị, đặc trưng cho vở ballet này. Vở ballet này không chỉ lãng mạn và  quý phái, đó còn là định mệnh và đầy sự hủy diệt. Và  cơn bão mà Tchaikovsky đã tạo ra trong Màn IV cũng mang tầm cỡ vũ trụ như trong vở bi kịch “Vua Lear” của Shakespeare.


Vở “Hồ thiên nga” trên sân khấu Nhà hát Mariinsky

Continue reading

Khai mạc Festival âm nhạc “Những ngôi sao đêm trắng” lần thứ XIX tại nhà hát Mariinsky

Festival âm nhạc “Những ngôi sao đêm trắng” (Звезды белых ночей) lần thứ XIX diễn ra từ ngày 23/05 đến ngày 24/07 tại Sankt-Peterburg, thủ đô phương bắc của nước Nga. Festival mở màn bằng vở diễn đinh của năm – vở “Rượu tình” (L’elisir d’amore) của nhà soạn nhạc người Ý Gaetano Donizetti với sự tham gia của ngôi sao Anna Netrebko trong vai nữ chính Adina và nhạc trưởng Valery Gergiev.

Continue reading

Một thiên nga khác… Yulia Barsukova

Tự dưng mấy hôm nay lại nhớ đến Yulia Barsukova, có thể vì nghe lại hơi nhiều khúc “Thiên nga” của Saint-Saëns. Mà bài thi đấu nổi tiếng nhất của Barsukova thì chính là bài thi đấu với bóng trên nền nhạc này…

Continue reading

Giselle

Hóa ra bài này mình chưa quẳng lên blog, keke, mọi người vẫn bảo – blog quái gì chả viết gì về mình. Viết thì dễ, nhưng về mình thì có gì hay ho để viết đâu.

Hôm trước ngẫu nhiên trong lúc ngồi uống cà phê ở nhà mình xem được đoạn cuối phim “Dancers” trên kênh HBO. Nội dung phim thì không có gì đặc biệt, nói về một diễn viên ballet với kế hoạch dựng bộ phim “Giselle” của anh ta, và chuyện tình của anh song song với nội dung chính của vở ballet. Mikhail Baryshnikov đóng vai chính, và nhờ đó mình hầu như được xem trọn vẹn vở “Giselle”.

Natalia Bessmertnova trong vai Giselle. Cùng với Mikhail Lavroksy. Đây là lúc Giselle còn hạnh phúc, hạnh phúc vì không biết sự thực…

Dường như mọi thứ đều quen thuộc, có thay đổi một chút, một chút thôi nhưng vẫn rất quen. Vẫn là âm nhạc tuyệt vời của Adam, những bộ trang phục trắng muốt thiên thần của các wilis, vẻ ngây thơ của Giselle, những động tác arabesque, những bước nhảy thanh thoát và tinh tế… Nếu tỏ vẻ khắt khe thì mình có thể nói rằng màn Giselle phát điên thiếu một số variation (mà mình thích, keke), đại loại mình thích có thêm cảm giác nhẹ nhàng không khí của các nữ diễn viên trong màn 2, với lại vai Myrtha, nữ hoàng của các wilis cũng hơi thiếu chút phô diễn tài năng. Tuy nhiên, ấn tượng của mình là rất tốt, thì mình vẫn luôn luôn mến Baryshnikov mà…

Nhưng mà hôm nay mình bỗng dưng lại nghĩ – trời đất ạ, có thể nào Giselle lại cao thượng đến thế? Cái anh chàng Albrecht phụ bạc ấy đã gây ra cái chết của Giselle, khiến cho cô nàng không siêu thoát được mà biến thành wilis sau khi chết, vậy có cần phải cứu anh ta nữa không? Mình là mình chả cao thượng được đến thế đâu…

Serge Diaghilev và cuộc cách mạng 100 năm trước trong ballet

Alastair Macaulay (New York Times)
Lưu Hải Hà dịch

Ngày 18/5/1909, tại Paris, đoàn Ballets Russes – một đoàn ballet chưa bao giờ biểu diễn ở Nga đã trình diễn lần đầu tiên và có thành công vang dội. “Toàn bộ Paris” (các bộ trưởng, các nhà hoạt động xã hội, các nghệ sĩ, các ngôi sao trình diễn, nhà tạo mẫu) đều có mặt, các yếu nhân nước ngoài cũng thế. Sau màn ballet thứ hai, những điệu múa của người Polovts từ vở opera “Công tước Igor” của Borodin, khán giả đã tràn đầy cánh gà. Các diễn viên múa còn đang khởi động cho màn ballet cuối cùng thấy mình được hàng trăm cặp mắt người Paris chiêm ngưỡng, điều báo hiệu rằng – chuyến biểu diễn này đã trở thành lịch sử.
Serge Diaghilev, người sáng lập và động lực phát triển của Ballets Russes, năm 1916

Mặc dù bất ngờ tuyệt đối mà người Pháp gọi là cuộc cách mạng bắt đầu ở nhà hát, hơn là ở phạm trù mỹ học. Đó là đỉnh điểm của một tập thể nghệ thuật. Trong mỗi tiết mục, các vũ công, âm nhạc và dàn dựng đều ở đỉnh cao, họ kết hợp lại trong một sự hài hòa khác nhau, nhưng hoàn hảo. Vài thập kỷ trước đó, Wagner đã đề xuất một công việc chung của nghệ thuật (Gesamtkunstwerk), trong đó âm nhạc, dàn dựng và nội dung kịch tính phối hợp lại với tỷ lệ như nhau. Nhưng khi đó, Serge Diaghilev, nhà điều hành của Ballets Russes đã cho công chúng ba Gesamtkunstwerk trong một buổi tối, với chất lượng của chuyển động mà không một opera nào của Wagner đã từng được biết. Diaghilev làm điều này suốt 21 mùa diễn, và chỉ dừng lại khi ông qua đời năm 1929.

Lần kỷ niệm 100 năm buổi trình diễn ra mắt của Ballets Russes được đánh dấu bởi những triển lãm, hội thảo và trình diễn từ Salt Lake City cho tới Sydney. Điều này là có thể vì năm nay sẽ có nhiều sự kiện để vinh danh đoàn múa của Diaghilev cũng như lần kỷ niệm lớn trước, nhân dịp 50 năm ngày mất của ông năm 1979. Và trong 30 năm qua, tất nhiên là đánh giá của chúng ta đối với Ballets Russes đã thay đổi.

Năm 1979, khi một số người đã từng làm việc với Diaghilev vẫn còn sống, thì người này thống kê số lượng các vở diễn của Ballets Russes, người khác đưa lên sân khấu năm nay hoặc trong chương trình sắp tới, theo công thức nổi tiếng về sự thống nhất giữa dàn dựng, âm nhạc và vũ điệu chói lọi trong nhà hát. Hai vở ballet tốt nhất do Léonide Massine biên đạo là hình ảnh thu nhỏ điều này “La Boutique Fantasque” (một vở hài hước về búp bê và người, dàn dựng bởi André Derain trên nền nhạc Rossini với Ottorino Respighi phối khí) và “Le Tricorne” (một tác phẩm Tây Ban Nha của nhạc sĩ Manuel de Falla và họa sĩ Picasso).

Trong thời kỳ cuối những năm 70, đầu những năm 80 tôi đã thấy những lần diễn tốt cả 2 vở này ở London (nơi mà Diaghilev đã trình diễn chúng lần đầu tiên trên thế giới năm 1919).

Massine trở thành biên đạo múa trong đoàn của Diaghilev năm 1915. Tất cả các vở ballet của Massine đều phụ thuộc vào các dàn dựng xuất sắc (ba trong số đó có sự hợp tác với Picasso) – được xây dựng trên cơ sở các thành công của Ballets Russes trước Thế chiến I. Từ năm 1909 đến năm 1913 Alexandre Benois, Léon Bakst, Nikolai Roerich và các họa sĩ Nga xuất sắc khác đã đã đưa khía cạnh hình ảnh của ballet lên tới đỉnh cao chưa từng có. Stravinsky đưa âm nhạc qua một loạt những cách mạng trong tổng phổ của ông cho các vở “Chim lửa” (The Firebird, 1910), “Petrouchka” (1911), and “Mùa xuân thần thánh” (“The Rite of Spring,” 1913). Một số vở ballet thời kỳ này được trình diễn bởi các nam diễn viên ballet hàng đầu thời bấy giờ (thường thường, mặc dù không phải luôn luôn, là Vaslav Nijinsky), họ đem vào một khía cạnh nào đó của gợi cảm và trữ tình. Ballet trở nên gợi cảm một cách cách tân, hình ảnh lộng lẫy hơn, và về mặt kịch tính cũng phức tạp và thách thức hơn.

Vaslav Nijinsky trong vở “Giấc ngủ trưa của thần đồng áng” năm 1912

Tất nhiên là hiện nay một số các dàn dựng ấy chỉ còn giữ được giá trị lịch sử. Vở “Scheherazade” của Michel Fokine (1910) hiện giờ chỉ giống như một bộ phim câm được đệm bằng giai điệu cảm xúc của Rimsky-Korsakov, không ai coi đó là một vở ballet có kịch tính nghiêm túc. Những màu đậm nổi tiếng trong trang phục của Bakst thiết kế trông vẫn đẹp ấn tượng trong sách, nhưng không hài hòa trong mỗi lần phục hồi trên sân khấu.

Cảnh nóng trung tâm trong vở “Petrouchka” của Fokine – trong đó kịch tính nhiều lớp của vở ballet đã chuyển thành vết thương tâm lý, và chính cảnh này đã là cơ sở cho Sarah Bernhardt (diễn viên kịch nói lừng danh thời đó) gọi Nijinsky là “diễn viên tuyệt vời nhất thế giới” bây giờ trông có vẻ kỳ quặc: ý tưởng thú vị ấy chưa bao giờ chuyển động thật sự. Tất nhiên là vẫn còn một số người hoan nghênh “Petrouchka” như một vở ballet lớn nhất của Diaghilev, một tổng hòa tuyệt vời của âm nhạc, trang phục và biên đạo. Chắc chắn là trang phục của Benois trong vở ballet của Stravinsky vẫn còn rất hợp. Các cảnh đám đông vẫn có thể có một giới hạn rộng trong các chi tiết của các tính cách màu sắc như trong ballet đạt được. Nhưng kịch tính của ballet thì đã không được phát triển hàng thập kỷ.

Trong một biểu diễn thành công tại Royal Ballet ở London, vở “Chim lửa” do Fokine biên đạo vẫn có thể làm say đắm như một câu chuyện tường thuật. Trong phần kết, không ai múa lấy một bước: quá nhiều diễn viên quần chúng trở thành đám đông bất động trong lễ đăng quang của nhà vua. Hoạt cảnh con người này, sự tráng lệ của âm nhạc của Stravinsky và quang cảnh thành phố Nga đầy màu sắc của Natalia Gontcharova năm 1924 (do Diaghilev ủy thác thay thế dàn dựng ban đầu năm 1910) đã cùng tạo nên một hiệu ứng tuyệt vời, khiến chúng ta cảm nhận được tại sao câu chuyện phiêu lưu của những cảnh đầu tiên của vở ballet này lại bất ngờ biến thành câu chuyện nghi lễ (khi đoàn Ballet hoàng gia lần đầu tiên diễn cảnh này ở Moscow năm 1961, khán giả đã vỗ tay cùng với nhạc, họ cảm nhận được rằng đó là câu chuyện của họ).

Các vở ballet của Fokin “Les Sylphides” (1909) và “Chim lửa ” có lẽ là hai vở duy nhất của Ballets Russes giai đoạn trước 1913 mà vẫn còn có sự thuyết phục sân khấu trong suốt thời gian tồn tại. Cũng có thể bổ sung “Polovtsian Dances” cũng do Fokin biên đạo vào danh sách này. Một số thì chắc là sẽ bổ sung thêm “Giấc ngủ trưa của thần đồng áng” do Nijinsky biên đạo và biểu diễn vào danh sách này nữa. Tuy nhiên các buổi biểu diễn riêng biệt thay đổi khá nhiều trong quá trình phát triển của mình.

Ngoài những chuyện khác, thì Diaghilev còn là một người … học làm sang, và một phần trong số những … huyền thoại gây tranh cãi bao quanh Ballets Russes nhằm mục đích quảng bá tên tuổi. Người ta sẽ muốn được chứng kiến kết quả sự hợp tác của Picasso-Stravinsky (“Pulcinella,” 1920) cũng như muốn được có mặt trong số những khán giả của đêm diễn đầu tiên năm 1909 (trong đêm đó có Isadora Duncan, Chaliapin, Rodin và Ravel)

Phải, có những con đường trong đó thành tựu của Diaghilev ngày nay trông có vẻ ấn tượng hơn bao giờ hết. Một người có óc thẩm mỹ tinh tế từ thời trẻ, nhưng chưa bao giờ là một nghệ sĩ sáng tạo, Diaghilev đã tiến hành những thay đổi cách mạng cả trong nghệ thuật lẫn mỹ học. Khi Diaghilev đương nhiệm, khán giả tới buổi biểu diễn ballet để nhìn và nghe những điều mới, để suy ngẫm lại những gì đã có, và trên hết là thực hiện sự kết hợp mới giữa phong cách và nội dung. Và phong cách, vốn hết sức khác biệt đối với mỗi vở ballet, lại trở thành nội dung. Các chủ đề như những búp bê múa và các nhân vật của hài kịch dell’arte, những khía cạnh của quá khứ thô sơ của nước Nga và của văn hóa triết học phương Tây – những điều này lặp lại rất nhiều trong danh mục tác phẩm biểu diễn của Ballets Russes. Và không ai than vãn vì phải diễn tập nhiều quá – các cuộc diễn tập lần này và lần khác hết sức khác nhau. Và một vài phiên bản sau đó của các chủ đề này vẫn còn đang chịu phép thử của thời gian.

Hiện nay dường như đã thành mốt nhận định rằng những vở ballet sau năm 1914 của Diaghilev, đặc biệt là những vở diễn sau năm 1921 ở mức độ thấp hơn so với các vở ballet trước đó. Nhà soạn nhạc và phê bình người Anh Constant Lambert đã viết về Diaghilev: “Trước chiến tranh ông ấy tạo nên mốt cho ballet Nga, nhưng sau chiến tranh thì ông chỉ đơn thuần tạo ra mốt chỉ vì mốt”.

Tất nhiên đó không phải lý do vì sao Ballets Russes vẫn còn trong các vở diễn ngày nay. Bốn vở ballet của Diaghilev được phục hồi lại từ lần diễn những năm 1920: “Les Noces” (1923) và “Les Biches” (1924) bởi Nijinska, “Apollo” (1928) và “The Prodigal Son” (1929) bởi Balanchine. Cả bốn vở đều công diễn ở Mỹ trong năm nay.

Ngoài ra, những vở này còn thách thức quan niệm thông thường rằng các vở ballet tốt nhất của Diaghilev là sự phối hợp hài hòa của bài trí sân khấu, âm nhạc và vũ điệu. Trong khi các vở ballet của Massine hoàn toàn vô nghĩa nếu thiếu bài trí sân khấu nguyên gốc của chúng, thì vở “Apollo” của Balanchine – một trong những vở ballet có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 – lại gần như trở thành vô nghĩa với toàn bộ bài trí sân khấu nguyên gốc ấy. Balanchine bắt đầu trình diễn “Apollo” với dàn dựng mới trong những năm 1930 và một thời gian lâu sau đó đã khiến công chúng quen với việc “Apollo” trình diễn với bài trí sân khấu tối thiểu. Những người hâm mộ các tác phẩm hội họa của Gontcharova không cần phải bỏ nhiều thời gian để ngắm những bài trí sân khấu câm lặng của nữ họa sĩ cho vở “Les Noces” (“The Wedding”); nữ họa sĩ muốn cho vở ballet diễn ra trong những màu sắc sáng tươi, nhưng Nijinska đã thắng thế. Vở ballet này cho thấy xã hội như một cỗ máy nghiền nát những cô dâu và chú rể thụ động, và là một trong những thành tựu lớn nhất của mọi nhà hát vũ kịch, và sự nguyên tác bài trí sân khấu cứng đờ không giúp được gì cho việc này.

Những màu phấn của Marie Laurencin và trang phục những năm 1920 chắc chắn làm cho vở “Les Biches” trở nên sang trọng hơn, nhưng chúng không phải là quá quan trọng. Điều gì đã làm một vở kịch về sự phù phiếm và nhập nhằng khiến người ta ghi nhớ – đó chính là sự liên hệ chặt chẽ giữa vũ điệu và âm nhạc của Poulenc. Prokofiev than phiền về biên đạo của Balanchine đối với âm nhạc của ông trong vở “The Prodigal Son”; ông đối mặt với một thứ gì đó hiện thực hơn nhiều (giống như “Petrouchka” của Fokine). Hậu thế thì lại phủ nhận ông: biên đạo của Balanchine vẫn còn đưa ra chi tiết trong tổng phổ.

Cả Les Biches” lẫn “The Prodigal Son” đều bao gồm những hình ảnh từ các vở diễn trước đó của Ballets Russes: chàng thanh niên trẻ trung và người đàn bà quyến rũ trần tục. Trong hai vở ballet này, những khuôn mẫu ấy trở thành vai trò chủ đạo. Âm hưởng chính của “Les Biches” là châm biếm, hiện đại, bà chủ nhà, cầm điếu thuốc lá dài, mặc chiếc váy-ngọc trai kêu lách cách khi bà ta múa, và những cậu bé thể thao bãi biển tuyệt nhiên không hề rực sáng. Nijinska đã sắp đạt cho họ các điệu múa chặt chẽ – chân họ cắt kéo trong không trung – điều này làm cho họ giống như các nhân vật trong các truyện thời trẻ của Evelyn Waugh (nhà văn hài hước người Anh). Trong “The Prodigal Son”, thì Siren, còn cường tráng hơn cả Đứa con hoang đàng, cuốn quanh anh ta như một con rắn.

Trong cuộc đời mình Diaghilev đã biến đổi tình cảm Nga của mình vốn xuất phát từ quá khứ văn hóa của người Nga, giới thiệu cho nước Nga những gì xảy ra chung quanh, giới thiệu cho phương tây những gì đang xảy ra ở Nga, và cuối cùng thì giới thiệu với phương Tây những biểu lộ mới nhất của chính phương Tây. Và trong nhiều trường hợp, ông phát biểu với quyền lực như một nguyên thủ có khả năng thúc đẩy nền móng của văn hóa thế giới. Năm 1905, ở St. Petersburg, Diaghilev nói “Chúng ta là nhân chứng của một trong những thời khắc vĩ đại nhất trong lịch sử, vào thời khắc gọi tên một văn hóa mới, còn chưa được biết, văn hóa do chúng ta tạo nên, và sẽ còn quét sạch chúng ta đi”. Năm 1920 thì ông nói “Chủ nghĩa cổ điển, giống như mọi thứ khác, đang tiến triển”. Và bổ sung thêm. “Những tòa nhà chọc trời cũng có chủ nghĩa cổ điển của riêng mình, chúng là các cung điện trong thời đại của chúng ta. Chủ nghĩa cổ điển nghĩa là tài sản, chứ không phải là kết thúc”.

Khi Balanchine dựng vở “Apollo” của Stravinsky cho Ballets Russes năm 1928, Diaghilev quan sát các buổi tập, chứng kiến rằng thứ ballet hiện đại này vượt lên truyền thống của ballet thế kỷ 19 của Petipa và nhận xét: “Những gì Balanchine đang làm thật là tuyệt diệu. Đó là chủ nghĩa cổ điển thuần túy mà chúng ta chưa từng thấy sau Petipa”. Vở ballet “Người đẹp ngủ trong rừng” (Sleeping Beauty) vẫn còn rất mới khi chàng thanh niên 18 tuổi Diaghilev mới tới St. Petersburg vào năm 1890. Năm 1928, Diaghilev đã ở gần cuối đời, nhưng ông vẫn có thể thấy được điều này, nhờ lao động của mình, mặc dù ông không nói ra điều đó – chủ nghĩa cổ điển quả thực đang tiến triển.