Gửi em gái Sura (3) – Sergei Esenin

Thú thật là mình rất ngại các bài thơ Esenin gửi em gái, sợ nữa là khác. Đọc thì thấy rất hay, nhưng dịch thì cứ luôn cảm thấy áp lực nặng nề. Tuy nhiên, cũng đôi khi mình dịch trọn vẹn được một bài.

* * *

Сестре Шуре (3)

Сергей Есенин

В этом мире я только прохожий,
Ты махни мне веселой рукой.
У осеннего месяца тоже
Свет ласкающий, тихий такой.

В первый раз я от месяца греюсь,
В первый раз от прохлады согрет,
И опять и живу и надеюсь
На любовь, которой уж нет.

Это сделала наша равнинность,
Посоленная белью песка,
И измятая чья-то невинность,
И кому-то родная тоска.

Потому и навеки не скрою,
Что любить не отдельно, не врозь –
Нам одною любовью с тобою
Эту родину привелось.

1925

* * *

Gửi em gái Sura (3)

Sergei Esenin

Thế giới này anh là kẻ qua đường,
Em vẫy anh bằng cánh tay vui vẻ.
Mảnh trăng thu dường như cũng thế
Ánh sáng dịu dàng, yên tĩnh làm sao.

Lần đầu anh sưởi ấm dưới trăng,
Lần đầu anh thấy ấm khi mát lạnh,
Và anh lại sống và hy vọng
Vào một tình yêu đã chẳng có trên đời.

Đó là nhờ đồng bằng của chúng ta,
Được cát trắng làm mặn mà đằm thắm
Nhờ một tâm hồn ai kia trong trắng
Dẫu bị vò nhàu, nỗi sầu thảm thân thương.

Và vì vậy chẳng bao giờ anh giấu
Rằng không hề yêu chia lẻ, tách riêng,
Anh và em có cùng tình yêu ấy,
Với quê hương này, mảnh đất thiêng liêng.

1925

Advertisements

Đã phê bình thì cần phê cho đúng – về bài viết “Clip và bản dịch bài thơ ‘Đợi Anh Về’” của hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh.

Gần đây một số người có chia sẻ lại bài viết “Clip và bản dịch bài thơ ‘Đợi Anh Về’” của hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh.

http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/dich_lai_bai_doi_anh_ve.html

Nội dung chủ yếu của bài viết là chỉ ra nhiều chỗ mà tác giả bài viết cho là Tố Hữu dịch sai, và giới thiệu bản dịch mới của nhóm tác giả khắc phục được các lỗi sai trên.

Vì bài viết này được chia sẻ rộng rãi, có nhiều người đọc, nên cũng cần có phản hồi với những nhận định còn gây tranh cãi, vội vàng, cảm tính, chưa đủ căn cứ trong bài viết của hai tác giả trên.

Trong phần dưới đây, chúng ta sẽ xem xét các lời phê của hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh.

1. Về đoạn phê bình thứ nhất của hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh. Dưới đây là trích dẫn trong bài trên

1. Trong khổ đầu, Tố Hữu dịch:

” Em ơi đợi Anh về
Đợi Anh hoài Em nhé ” 

Tố Hữu đã dùng câu điệp là thừa, hơn nữa từ ” hoài ” làm nghĩa câu thơ bị sái (hoài công, phí công). Cả hai câu này là lời nhắn nhủ của người lính ở xa. Anh nhắn nhủ thế là đúng, nhưng còn Anh thì sao? Không thấy nói đến. Do đó câu thơ trở nên một chiều.

Còn trong nguyên bản là :

” Em ơi, đợi Anh!
Anh sẽ về ” 

Hai câu là hai vế khác nhau. Một vế nhắn nhủ Em, còn một vế nhắn với Em rằng: Anh sẽ về. Đây là niềm tin hi vọng của cả hai bên, và cũng là niềm chung thủy của người lính ở ngoài mặt trận.

Đoạn thứ nhất này hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh đã hiểu sai chữ “hoài” của Tố Hữu. Chữ “hoài” ở đây không phải là hoài công, phí công. Thật tiếc là tác giả không tra từ điển trước khi viết. Chữ “hoài” còn có một nghĩa nữa, khi dùng phụ sau động từ, là mãi không thôi, mãi không chịu dứt. Và Tố Hữu dùng chữ “hoài” với nghĩa này, nên chẳng có gì sai quá so với nguyên tác

Жди меня, и я вернусь.
Только очень жди,

Tạm dịch nghĩa:

Hãy đợi anh, và anh sẽ trở về
Chỉ có điều, hãy đợi thật kiên định

Về mặt dịch nghĩa, tôi không thấy Tố Hữu có sai sót gì lớn.

Cả hai câu trong nguyên tác đều là lời nhắn của người ra đi đối với người ở lại, thế mới đúng với văn cảnh và ngữ pháp của nguyên tác.

Đoạn phê bình sau của tác giả bài viết đối với 2 câu thơ đầu thực tình mà nói không rõ nghĩa lắm:

Hai câu là hai vế khác nhau. Một vế nhắn nhủ Em, còn một vế nhắn với Em rằng: Anh sẽ về. Đây là niềm tin hi vọng của cả hai bên, và cũng là niềm chung thủy của người lính ở ngoài mặt trận.

Người viết những dòng này sợ rằng đây là phần tán tụng chủ quan của hai ông San, Thịnh. Chứ xét về nguyên tác ấy, đọc hai câu đầu với nghĩa đã dịch ở trên thì người Nga sẽ chỉ hiểu đơn giản – lời nhắn của người ra đi, thế thôi.

2. Đoạn thứ hai, hai ông San Thịnh bàn về hai câu thứ 8 và 9 trong bản dịch của Tố Hữu. Chúng ta lại trích dẫn hai ông trước

2. Câu thứ 8 và thứ 9 Tố Hữu dịch là :

” Bạn cũ có quên rồi
Đợi Anh hoài Em nhé ” 

Câu này không rõ nghĩa, không chuẩn về mặt ngữ pháp và nhắc lại từ ” hoài ” không đắt. Nội dung chính trong nguyên tác là :” Dù các bạn của Em, có ai đó đã quên người yêu của họ, thì riêng Em cứ chờ “. Hai câu có hai vế đối lập nhau, làm tăng thêm sức mạnh nội tâm về lòng chung thủy. Vậy nên dịch lại là :

” Dẫu ai đó quên rồi
Thì riêng Em cứ đợi ” 

Cụm từ ” ai đó ” ở đây có nghĩa không xác định, không chỉ một người cụ thể nào chứ không nên dịch như Tố Hữu là ” bạn cũ có quên rồi ” vì nó cụ thể quá làm bạc nghĩa. Ngoài ra, cụm từ ” Dẫu ai đó “đối lập với cụm từ “Thì riêng Em ” sẽ làm nổi bật lên sự kiên định của Em . Lời dịch của Tố Hữu không phản ánh được điều này.

Hai câu thơ dịch của Tố Hữu

“Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài em nhé”

hoàn toàn dễ hiểu – dù các bạn cũ anh có quên, không đợi anh nữa, thì em vẫn đợi anh nhé. Chẳng có gì sai ngữ pháp ở đây cả.

Về nghĩa của chữ “hoài”, thì hai ông San, Thịnh vẫn sai như trong đoạn 1, xin phép không nhắc lại.

Nguyên tác Simonov viết:

Жди, когда других не ждут,
Позабыв вчера.

Có nghĩa là:

Em hãy đợi, khi người ta không còn đợi những người khác nữa, họ đã quên vào hôm qua mất rồi.

Cho nên ở đây hai ông San, Thịnh đã hiểu sai nội dung hai câu trong nguyên tác.

Vấn đề là ở đây, những người chờ đợi không phải chỉ là người yêu. Bố mẹ chờ con, ông bà chờ cháu, con cái chờ bố, anh chị em chờ nhau, bạn bè chờ nhau, vân vân, đối tượng chờ đợi là rất rộng. Và đó mới là cái hay – chiến tranh đã tác động đến cuộc sống, đến tình cảm của rất nhiều người. Tự dưng hai ông San Thịnh thu hẹp nó lại để “tăng thêm sức mạnh nội tâm về lòng chung thủy” là thiếu căn cứ và võ đoán. Do đó đòi hỏi bản dịch phải nêu lên điều này cũng rất khó hiểu.

Tất nhiên là chữ “bạn cũ” của Tố Hữu không phản ánh được đông đảo tập hợp người chờ đợi này, nhưng cũng là một tập hợp khá lớn, và không có gì là “làm bạc nghĩa” cả.

3. Trong đoạn này hai tác giả Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh chê đoạn dịch sau của Tố Hữu:

“Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi cứ đợi”.

Trích của hai ông San, Thịnh

3. Tiếp theo Tố Hữu dịch :

” Tin Anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi người về
Thì Em ơi cứ đợi “. 

Dịch thế là sai nguyên tác, vì tác giả không hề nói :”Chẳng mong chi ngày về ” nghe nó tuyệt vọng quá ( giống như từ ” hoài ” vậy ). Xi-Mô-Nốp không nói thế. Còn vô nghĩa là ở câu dịch :” Lòng ai dù tái tê “, bởi “lòng ai ” có nghĩa không xác định, không rõ đối tượng, còn trong nguyên bản đối tượng rất cụ thể là ” Lòng Em” chứ không phải là một ai khác.

Nên dịch lại là:

“Đợi Anh dù phương xa
Thư Anh dù chẳng lại
Dẫu lòng bao tê tái
Thì Em ơi, cứ chờ ” 

Đoạn này nguyên tác là

Жди, когда из дальних мест
Писем не придет,
Жди, когда уж надоест
Всем, кто вместе ждет.

Dịch nghĩa tạm

Hãy cứ chờ, ngay cả khi từ những nơi xa
Những bức thư không tới được.
Hãy cứ chờ, ngay cả khi
Tất cả những người cùng chờ đợi đã chán chờ rồi.

Với ý nghĩa này thì bản dịch của Tố Hữu chẳng có gì sai khác quá so với nguyên tác. Đặc biệt chữ “lòng ai” – đúng là không xác định, vì nguyên tác cũng nói đến rất nhiều người, chứ không phải nhân vật nữ trữ tình của bài thơ.

Hai ông San, Thịnh chê mấy câu này của Tố Hữu là “sai nguyên tác, vì tác giả không hề nói: “Chẳng mong chi ngày về” nghe nó tuyệt vọng quá “.

Tuy nhiên nguyên tác bảo là – em cứ chờ đi, ngay cả khi những người khác chung cảnh chờ đợi đã chán chờ rồi. Với nghĩa này, câu thơ của Tố Hữu truyền đạt đúng tinh thần của nguyên tác – những người chờ đợi đã không còn mong rằng người kia sẽ quay lại (còn mong thì người ta vẫn chờ cơ mà!).

Như vậy, hai ông Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh đã cưỡng ép Simonov phải nói theo ý các ông để mà chê bản dịch của Tố Hữu.

4. Đoạn này hai ông San, Thịnh chê Tố Hữu dịch sai nguyên tác

4. Còn một khổ dài Tố Hữu dịch là:

” Em ơi, Em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong Anh trở lại…” 

Khổ thơ này gần như sai hoàn toàn so với nguyên tác. Trong bài thơ, Xi-Mô-Nốp nói: ” Em chờ Anh, nhưng đừng có hoàn toàn mong những điều tốt lành. Bởi vì, trong chiến tranh điều gì cũng có thể xảy ra cả. Nếu chẳng may Anh có hy sinh thì nỗi đau khổ của Em, Em phải gắng quên đi trong nghị lực, hãy giúp Mẹ nuôi con thay Anh… “. Trong khổ thơ này, Tố Hữu một lần nữa lại dùng cụm từ không xác định ” Dù ai nhớ thương ai ” làm câu thơ trở nên vô hồn, không có nghĩa.

Thêm nữa, chỉ có 4 câu 5 chữ mà Tố Hữu đã 2 lần lặp lại , trùng văn , trùng ý: ” Chẳng mong có ngày mai – …. – Hết mong Anh trở lại … “. Trong thơ của mình Xi – Mô – Nốp không hề có ý nghĩ tiêu cực về bà mẹ như lời dịch của Tố Hữu: ” Dù mẹ già con dại – Hết mong Anh trở lại“. Còn trong nguyên tác ý nghĩa rất tích cực của tác giả là : ” Em hãy cố gắng quên khổ đau để nuôi Mẹ nuôi con” Tố Hữu lại bỏ mất. Có thể nói khổ thơ này dịch sai hoàn toàn cả ý, cả lời.

Nên dịch lại là :

“Chờ Anh, Anh sẽ về
( nhưng ) Đừng chỉ mong điều tốt đẹp
Như Em từng đã biết
Nỗi đau cần phải quên…
Hãy nhìn vào Mẹ hiền
Và các con thơ dại…
… Nếu Anh không trở lại 

Như thế vừa sát nguyên văn, phản ánh được đúng tâm hồn của tác giả.

Ừ thì ta xem nguyên tác viết gì

Жди меня, и я вернусь,
Не желай добра
Всем, кто знает наизусть,
Что забыть пора.
Пусть поверят сын и мать
В то, что нет меня

Dịch nghĩa đoạn trên như thế này:

Hãy đợi anh, và anh sẽ trở lại
Đừng mong những điều tốt lành
cho những người biết rất rõ
Rằng đã đến lúc quên.
Dù cho con trai và mẹ có tin rằng
Anh đã không còn trên đời này nữa

Đọc sơ qua thì thấy ngay, người dịch sai nguyên tác là hai ông San, Thịnh, khổ thật. Do đó mọi bàn luận sau về đoạn thơ này của hai ông San, Thịnh đều không đáng mổ xẻ.

Đoạn này thì Tố Hữu không hoàn toàn bám sát nguyên tác, nhưng ý chính của đoạn thơ này ông đã truyền đạt đúng. Đặc biệt hai câu

Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại…

thì không những Tố Hữu dịch đúng, mà còn dịch hay. Cá nhân tôi thích cụm từ “mẹ già con dại”, rất chuẩn xác, rất Việt, và rất thơ.

5. Đoạn này hai ông San, Thịnh lại chê Tố Hữu dịch sai, bịa ý

5. Lại một đoạn thơ rất hay của Xi-Mô-Nốp, nói với người vợ ở hậu phương rằng: ” Nếu có người bạn gái của Em vẫn chờ chồng phương xa, thường ngồi bên cửa sổ nhâm nhi li rượu cay ( từ cay ở đây rất hay ) để có thể nguôi ngoai đi phần nào nỗi nhớ, nỗi khổ, thì Em ơi, Em hãy cứ như bạn mà uống đi “.

Nhưng Tố Hữu lại dịch khác hẳn:

” Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi Anh hoài Em nghe
Anh của Em sắp về 

Thì có thể nói gần như đã phóng bút đến mức bịa ra một ý khác hẳn. Trong nguyên tác, không hề có ” nấm mồ xanh “, không có ” ai viếng hồn ai ” cả. Còn câu: “Nâng chén tình dốc cạn… ” thì không thể hiểu ý tứ gì, nghĩa lí gì được nữa. Phải dịch là :

” Như ai đó đợi chờ
Vẫn ngồi bên cửa sổ
Li rượu cay, nỗi nhớ
Thì Em ơi uống đi
Cho lòng vơi nỗi khổ ” 

Thôi lại đi tìm đọc mấy dòng đó trong nguyên tác của Simonov

Пусть друзья устанут ждать,
Сядут у огня,
Выпьют горькое вино
На помин души…
Жди. И с ними заодно
Выпить не спеши.

Đoạn này nếu dịch nghĩa để hiểu, thì nó đại loại thế này

Những người bạn đã mệt mỏi vì chờ đợi,
Cứ để họ ngồi bên bếp lửa,
Uống cốc rượu đắng,
Để tưởng niệm người đã chết…
Nhưng em hãy chờ. Và đừng vội
Uống chung với họ.

Với ý nghĩa này thì chỉ có thể kết luận – hai ông San Thịnh mới bịa ra ý của nguyên tác. Chưa kể hai ông có những lỗi rất kỳ khôi – у огня có nghĩa là bên ngọn lửa, tức bên lò sưởi, bên bếp lửa, thì các ông lại bảo là bên cửa sổ. Simonov nhắn – đừng vội uống cùng với bạn, vì họ tin rằng anh đã chết, còn em thì đừng tin, và hãy đợi anh – thì hai ông San Thịnh lại hiểu ngược lại!

Tố Hữu dịch không đúng hoàn toàn từng chút, nhưng thông điệp chung của đoạn thơ thì ông đã truyền đạt đúng.

6. Đoạn thứ sáu của hai ông San Thịnh cho rằng Tố Hữu dịch ngoài ý

6. Và Xi-Mô-Nốp còn viết: ” Nếu có người vợ nào đó có cầm lòng không được, thì đừng trách họ làm gì. Nhưng trong bom rơi đạn lửa ta (em và anh) vẫn biết chờ nhau“. Tố Hữu dịch ra ngoài ý này: ” Thì Em ơi mặc bạn -…. “. Nên dịch lại là:

” Đợi Anh! Anh sẽ về
Dẫu kề bên cái chết
Nếu có ai quên hết
Chẳng biết đợi chờ ai
Đừng trách họ lạt phai
Đã không cam chờ đợi ” 

Đoạn này nói lên tư tưởng thoáng đạt, niềm cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người phụ nữ hậu phương có thể đi bước nữa, trong cảnh rất nhiều người chồng, người anh của họ đã ra đi mà không bao giờ có thể trở về.

Chỗ này, rất buồn mà nói, hai ông San Thịnh vẫn hiểu sai nguyên tác như các đoạn trước

Nguyên tác Simonov viết

Жди меня, и я вернусь,
Всем смертям назло.
Кто не ждал меня, тот пусть
Скажет: – Повезло.
Не понять, не ждавшим им,
Как среди огня
Ожиданием своим
Ты спасла меня.
Как я выжил, будем знать
Только мы с тобой,-
Просто ты умела ждать,
Как никто другой.

Đoạn này rất tiếc là không có gì chung với những gì hai ông San Thịnh đã viết. Xét về ngữ nghĩa, đoạn thơ trên của Simonov có thể diễn đạt như sau:

Hãy đợi anh, và anh sẽ trở lại
Cho những cái chết phải tức điên
Những ai không chờ anh, thì cứ để
họ nói rằng – May mắn thôi mà.
Những người không chờ đợi, họ đâu hiểu được
Rằng giữa chốn gian nguy lửa đạn
Em đã cứu sống anh, bằng sự chờ đợi của mình.
Làm thế nào mà anh đã sống sót được giữa nguy nan
Chỉ có em và anh biết, –
Đơn giản là em biết cách chờ đợi
Không như bất kỳ ai khác.

Chẳng có gì nói về tư tưởng thoáng đạt, niềm cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người phụ nữ hậu phương có thể đi bước nữa. Có thể Simonov có tư tưởng ấy, nhưng không diễn đạt nó trong đoạn thơ này. Cho nên rất tiếc, hai ông San Thịnh đã hiểu sai, và bắt Simonov phải nói những gì ông không nói.

7. Đoạn số 7, hai ông San Thịnh chê bản dịch của Tố Hữu là không đẹp, ngoài ý chí của tác giả.

7. Đoạn cuối Tố Hữu dịch là:

” Đợi Anh, anh sẽ về
Trong chết cười ngạo nghễ
Hẳn cho sự tình cờ…”. 

Trong nguyên tác không hề có sự ” chết cười “, không có ” ngạo nghễ “. Nói thế làm câu thơ không còn đẹp nữa. Trên đời không có sự tình cờ nào cả, mà nếu có thì cũng ra ngoài cái ý chí, lòng kiên định, sự tin tưởng của tác giả muốn nói. Cần phải dịch lại:

” Trong bom rơi lửa dội
Chỉ ta biết chờ nhau
Em ngã vào lòng đau
Lúc Anh về, Anh biết ” 

Biết cái gì ? Tác giả đã lí giải và nên dịch lại đoạn này như sau:

” Chỉ có Em tha thiết
Dù dòng lệ cạn khô
Em của Anh biết chờ
Không như ai, chẳng đợi “. 

Rất tiếc, đọc đoạn này chỉ thấy hai ông San Thịnh có vấn đề với việc ngắt câu trong tiếng Việt

Bản dịch của Tố Hữu

“Đợi Anh, anh sẽ về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ…”.

Câu thứ hai vốn phải ngắt câu thành
Trông chết, cười ngạo nghễ

tức là nhìn cái chết mà cười ngạo nghễ, thì hai ông San Thịnh lại ngắt thành
Trông chết cười, ngạo nghễ

Tất nhiên ngắt câu như thế thì vừa vô lý, vừa sai, vừa làm hỏng ý của Tố Hữu. Thiết tưởng không cần bàn thêm về những chỉ trích với câu này của Tố Hữu.

Bản thân cách diễn đạt “Trông chết cười ngạo nghễ” có thể hơi hào hùng quá so với Simonov, nhưng không hề sai ý. Hơn thế, nếu xét trong bối cảnh khi Tố Hữu dịch bài thơ, thì xu hướng anh hùng hóa là hoàn toàn dễ hiểu.

Tóm lại, cả 7 đoạn phê bình của hai ông Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh đều xuất phát từ việc hai ông hiểu sai bản gốc tiếng Nga, và hiểu sai nội dung tiếng Việt của Tố Hữu. Vì vậy, phần lớn các lời phê bình của hai ông San, Thịnh đều không có giá trị khoa học.

Bản dịch thơ của hai ông San Thịnh dẫn ra trong link trên, do xuất phát từ cách hiểu sai bản gốc, nên không đáp ứng được yêu cầu truyền đạt đúng tinh thần bản gốc, nếu không nói là nhiều đoạn dịch sai hẳn ý của Simonov. Do đó, không cần phải bàn thêm về giá trị nghệ thuật của bản dịch này.

Nina

Đôi bờ – bản dịch rất cũ

Đây vốn là một bài hát trong bộ phim “Cơn khát” (Жажда) được chiếu từ năm 1959. Bài hát này thì có lẽ được nhiều người Việt Nam biết đến. Có thể do giai điệu dễ nghe, ca từ dịu dàng, và chung thủy, hay còn do điều gì nữa không rõ.

Bản dịch này mình dịch cũng lâu rồi, hình như từ thời còn chơi blog bên Yahoo, nhưng sau này thất tán trên mạng. Mình không đánh giá cao bản dịch của mình lắm, nhưng tìm lại được thì đăng nó lên thôi.

Riêng về phần dịch thơ, mình luôn chủ trương cố gắng truyền đạt hết ý nghĩa mà tác giả định nói, thêm bớt tối thiểu. Vì thế nên dịch chưa chắc đã hay, nhưng thường ít khi sai. Tuy nhiên trong bản dịch này, mình vẫn dịch thành thiên nga, cho nó …. thi vị, vì khổ cái là thường khi nói đến vịt, thì người Việt Nam hay nghĩ đến tiết canh, hơn là đôi chim hạnh phúc.


Майя Кристалинская (за кадром) – Два берега (1959)
Maya Kristalinskaya (giọng hát) – Đôi bờ

Два берега

Григорий Поженян

Ночь была с ливнями,
И трава в росе.
Про меня “счастливая”
Говорили все.
И сама я верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Утки все парами,
Как с волной волна,
Все девчата с парнями,
Только я одна.
Я ждала и верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Ночь была, был рассвет,
Словно тень крыла.
У меня другого нет,
Я тебя ждала.
Всё ждала и верила,
Сердцу вопреки:
Мы с тобой два берега
У одной реки.

Đôi bờ

Pozhenian Grigory

Mưa rào rơi đêm qua
Sương đang đọng trên lá…
“Em hạnh phúc tuyệt vời!” –
Đó là lời tất cả
Và chính em cũng tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Thiên nga bơi từng đôi
Như sóng chạy bên sóng
Bạn bè tay trong tay
Một mình em đơn độc
Em vẫn chờ vẫn tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Đêm qua rồi. Bình minh
Như bóng đen bao phủ
Em chẳng có ai khác
Em vẫn đợi chờ anh
Đợi chờ và vẫn tin
Mặc trái tim thổn thức:
Em và anh – đôi bờ
Của một con sông thực.

Ch’ella mi creda – Hãy để nàng tin

Nhờ có Facebook nhắc lại kỷ niệm mà mình bỗng tìm được một bản dịch cũ. Dù sao cũng 2 tháng rồi (một tỷ năm nghe điêu quá) blog mình không có gì mới mẻ.

Chẳng hiểu do đường truyền chậm, hay do cái laptop tội nghiệp của mình đã đến lúc phải thay, mà clip bây giờ nghe rất chán. Dù trước đây mình thấy cũng khá mà. Năm 1983 là năm mà phong độ giọng hát của Placido Domingo đang ở đỉnh cao, vai diễn này cũng là vai tủ của chàng. Thôi, độc giả ít ỏi của mình chịu khó nghe vậy, không thì đi tìm bản khác.

Placido Domingo – Ch’ella mi creda
from Puccini’s “La Fanciulla del West” at Covent Garden 1983

Vở opera La fanciulla del West (Cô gái từ phương Tây) của Giacomo Puccini là một trong những vở opera hiếm hoi của ông có kết cục không bi kịch. Đây là vở opera viết theo đặt hàng của một trong những nhà hát opera danh tiếng nhất thế giới – Metropolitan Opera. Hiển nhiên, lần trình diễn đầu tiên trước công chúng của vở opera này là trên sân khấu Metropolitan Opera tại New York ngày 10/12/1910.

Nội dung của vở opera cũng rất đặc trưng cho nước Mỹ thời bấy giờ – về những người tìm vàng trong cơn sốt vàng thời những năm 1850. Và vai nam chính Dick Johnson hay Ramerrez trong lần ra mắt đầu tiên do giọng tenor huyền thoại Enrico Caruso thể hiện.

Aria “Ch’ella mi creda” của Dick Johnson có lẽ là aria nổi tiếng nhất của cả vở. Bối cảnh của aria rất đơn giản và cũng rất lâm ly bi đát. Đây là lời trăng trối trước khi nhân vật nam chính bị treo cổ, và đương nhiên là chàng nhắn gửi đến người yêu.

Hãy để nàng tin, tôi đã tự do
Và xa lắm trên con đường mới!…
Nàng sẽ đợi chờ tôi quay lại…
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
và tôi sẽ không quay trở lại.
và tôi sẽ không quay trở lại.
Minnie, đóa hoa duy nhất của đời tôi,
Minnie, nàng đã rất yêu tôi!
Rất yêu!
Ôi, nàng là đóa hoa duy nhất của đời tôi!
Ch’ella mi creda libero e lontano
sopra una nuova via di redenzione!…
Aspetterà ch’io torni…
E passeranno i giorni,
E passeranno i giorni,
ed io non tornerò…
ed io non tornerò…
Minnie, della mia vita mio solo fiore,
Minnie, che m’hai voluto tanto bene!…
Tanto bene!
Ah, tu della mia vita mio solo fior!

Thật tình aria này ó rất nhiều người thể hiện thành công, nhưng mình vẫn bị Domingo thuyết phục nhất.,

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Một bài thơ được đặt hàng dịch, có thể do nó phù hợp với tình hình nóng bỏng hiện giờ chăng? Cá nhân mình thì không thích bài thơ này lắm, nhưng chả hiểu sao vẫn dịch được

ozero-baikal-2

Hồ Baikal.
Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa.

ОЗЕРО

Андрей Вознесенский

Я ночью проснулся. Мне кто-то сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.
Я на себе почувствовал взор,
Будто я моря убийца и вор.
Слышу – не спит иркутянин во мгле.
Курит. И предок проснулся в земле.
Когда ты болеешь, все мы больны.
Байкал, ты хрустальная печень страны!
И кто-то добавил из глубины:
“Байкал – заповедная совесть страны”.
Плыл я на лодке краем Байкала.
Вечер подсвечивал вполнакала.
Но неужели наука солгала
Над запрокинутым взором Байкала?
И неужели мы будем в истории –
“Эти, Байкал загубили которые?”
Надо вывешивать бюллетень,
Как себя чувствует омуль, тюлень.
Это не только отстойников числа –
Совесть народа должна быть чистой.
Вот почему, указав показуху,
Борются наши прорабы духа,
Чтоб заповедником стало озеро,
Чтоб его воды не целлюлозило,
Чтобы никто никогда не сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.

HỒ

Andrei Voznesensky

Tỉnh giấc giữa đêm. Có người bảo tôi:
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.
Tôi cảm nhận một cái nhìn khốc liệt
Cứ như tôi – kẻ trộm, giết biển kia.
Tôi lắng nghe – người Irkut không ngủ
Hút thuốc trong sương. Cha ông thức giấc.
Khi người ốm, tất cả chúng ta cũng ốm.
Ôi Baikal, lá gan mỏng mảnh của nước ta!
Và ai đó từ hồ sâu nói tiếp:
“Baikal – lương tâm bảo tồn quốc gia”
Tôi bơi thuyền khắp quanh bờ hồ nước.
Buổi chiều đang thắp nến mơ hồ..
Nhưng không lẽ khoa học đi nói dối
Trước cái nhìn lật ngược của Baikal?
Và không lẽ rồi đây trong lịch sử
Chúng ta sẽ là kẻ bức tử Baikal?
Chắc là cần phải treo bảng thông tin,
Cá hồi trắng, hải ly khỏe hay đang ốm
Đó không phải là số những thằng khốn
Lương tâm nhân dân cần phải sáng trong.
Vì vậy nên, các đạo đức gia
Tích cực đấu tranh, chỉ ra bệnh thành tích
Để hồ nước thành khu bảo tồn đích thực
Để nước hồ không chứa xel-lu-lô
Để không ai có thể nói bao giờ
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.

 

Tử đinh hương – Boris Pasternak

Tử đinh hương – Boris Pasternak

Có lẽ lã mấy hôm nay trời nóng quá, và xã hội hết lên đồng vì mấy con cá, lại đến mấy tấm biển hiệu đồng phục. Mình thì bỗng dưng nhìn thấy một bài thơ hay hay của Boris Pasternak. Thú thật là mình không thích nhà thơ này, dù ông ấy có được giải thưởng Nobel đi nữa, lý do là thơ quá khó hiểu.

Nhưng mà lúc đầu mình chỉ thấy có hai khổ thơ đầu tiên, nên chưa quá khó hiểu 🙂

Đến khi thấy cả bài thì đã muộn rồi.

siren

Сирень

Борис Пастернак

Положим, – гудение улья,
И сад утопает в стряпне,
И спинки соломенных стульев,
И чёрные зёрна слепней.

И вдруг объявляется отдых,
И всюду бросают дела.
Далёкая молодость в сотах,
Седая сирень расцвела!

Уж где-то телеги и лето,
И гром отмыкает кусты,
И ливень въезжает в кассеты
Отстроившейся красоты.

И чуть наполняет повозка
Раскатистым воздухом свод, –
Лиловое зданье из воска,
До облака вставши, плывёт.

И тучи играют в горелки,
И слышится старшего речь,
Что надо сирени в тарелке
Путем отстояться и стечь.

Tử đinh hương

Boris Pasternak

Hãy tưởng tượng – tiếng ong vo ve,
Và khu vườn chìm trong bếp núc,
Có cả những chiếc lưng ghế rơm,
Và loài ruồi trâu hạt đen nhưng nhức.

Rồi bỗng dưng có thông báo nghỉ,
Và mọi việc tạm dừng ở khắp mọi nơi.
Tong những tổ ong là tuổi trẻ xa xôi,
Tử đinh hương xám nở hoa lộng lẫy.

Chắc đâu đó có mùa hè, xe đẩy,
Và tiếng sấm rền quanh những bụi cây,
Trận mưa rào vào băng đĩa được ngay
Bên những sắc đẹp đã từ lâu trọn vẹn.

Và cỗ xe chỉ hơi nghiêng một chút
Không khí căng đầy điện tích vòm trời,
Có một tòa nhà tím làm bằng sáp,
Đứng cao tới mây, và bỗng nhiên bơi.

Và mây đen bắt đầu chơi đuổi bắt,
Có tiếng ai bỗng nghe thật rõ là,
Rằng hoa tử đinh hương trong đĩa,
Phải đứng lắng chút, và để nước chảy ra.

 

 

Tiếp tục thơ không đề của Anna Akhmatova

Thật khó tin, nhưng có người gửi mình bài thơ này nhờ dịch. Mình tự cảm thấy, bản dịch của mình mềm mại một cách không cần thiết so với bản gốc.

Анна Ахматова

Чем хуже этот век предшествующих? Разве
Тем, что в чаду печали и тревог
Он к самой черной прикоснулся язве,
Но исцелить ее не мог.

Еще на западе земное солнце светит
И кровли городов в его лучах блестят,
А здесь уж белая дома крестами метит
И кличет воронов, и вороны летят.
1919

Anna Akhmatova

Thế kỷ này tệ hại gì hơn trước?
– Trong khói mù lo lắng với đau buồn
Nó chạm đến vết loét đen tối nhất,
Nhưng không thể nào chữa được vết thương.

Phía tây mặt trời còn đang chiếu sáng
Những mái nhà lấp lánh dưới nắng vàng,
Cái chết trắng nơi đây phá tung nhà cửa
Hú gọi quạ bầy, và đàn quạ bay sang.
1919