Ch’ella mi creda – Hãy để nàng tin

Nhờ có Facebook nhắc lại kỷ niệm mà mình bỗng tìm được một bản dịch cũ. Dù sao cũng 2 tháng rồi (một tỷ năm nghe điêu quá) blog mình không có gì mới mẻ.

Chẳng hiểu do đường truyền chậm, hay do cái laptop tội nghiệp của mình đã đến lúc phải thay, mà clip bây giờ nghe rất chán. Dù trước đây mình thấy cũng khá mà. Năm 1983 là năm mà phong độ giọng hát của Placido Domingo đang ở đỉnh cao, vai diễn này cũng là vai tủ của chàng. Thôi, độc giả ít ỏi của mình chịu khó nghe vậy, không thì đi tìm bản khác.

Placido Domingo – Ch’ella mi creda
from Puccini’s “La Fanciulla del West” at Covent Garden 1983

Vở opera La fanciulla del West (Cô gái từ phương Tây) của Giacomo Puccini là một trong những vở opera hiếm hoi của ông có kết cục không bi kịch. Đây là vở opera viết theo đặt hàng của một trong những nhà hát opera danh tiếng nhất thế giới – Metropolitan Opera. Hiển nhiên, lần trình diễn đầu tiên trước công chúng của vở opera này là trên sân khấu Metropolitan Opera tại New York ngày 10/12/1910.

Nội dung của vở opera cũng rất đặc trưng cho nước Mỹ thời bấy giờ – về những người tìm vàng trong cơn sốt vàng thời những năm 1850. Và vai nam chính Dick Johnson hay Ramerrez trong lần ra mắt đầu tiên do giọng tenor huyền thoại Enrico Caruso thể hiện.

Aria “Ch’ella mi creda” của Dick Johnson có lẽ là aria nổi tiếng nhất của cả vở. Bối cảnh của aria rất đơn giản và cũng rất lâm ly bi đát. Đây là lời trăng trối trước khi nhân vật nam chính bị treo cổ, và đương nhiên là chàng nhắn gửi đến người yêu.

Hãy để nàng tin, tôi đã tự do
Và xa lắm trên con đường mới!…
Nàng sẽ đợi chờ tôi quay lại…
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
và tôi sẽ không quay trở lại.
và tôi sẽ không quay trở lại.
Minnie, đóa hoa duy nhất của đời tôi,
Minnie, nàng đã rất yêu tôi!
Rất yêu!
Ôi, nàng là đóa hoa duy nhất của đời tôi!
Ch’ella mi creda libero e lontano
sopra una nuova via di redenzione!…
Aspetterà ch’io torni…
E passeranno i giorni,
E passeranno i giorni,
ed io non tornerò…
ed io non tornerò…
Minnie, della mia vita mio solo fiore,
Minnie, che m’hai voluto tanto bene!…
Tanto bene!
Ah, tu della mia vita mio solo fior!

Thật tình aria này ó rất nhiều người thể hiện thành công, nhưng mình vẫn bị Domingo thuyết phục nhất.,

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Hồ Baikal – Andrei Voznesensky

Một bài thơ được đặt hàng dịch, có thể do nó phù hợp với tình hình nóng bỏng hiện giờ chăng? Cá nhân mình thì không thích bài thơ này lắm, nhưng chả hiểu sao vẫn dịch được

ozero-baikal-2

Hồ Baikal.
Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa.

ОЗЕРО

Андрей Вознесенский

Я ночью проснулся. Мне кто-то сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.
Я на себе почувствовал взор,
Будто я моря убийца и вор.
Слышу – не спит иркутянин во мгле.
Курит. И предок проснулся в земле.
Когда ты болеешь, все мы больны.
Байкал, ты хрустальная печень страны!
И кто-то добавил из глубины:
“Байкал – заповедная совесть страны”.
Плыл я на лодке краем Байкала.
Вечер подсвечивал вполнакала.
Но неужели наука солгала
Над запрокинутым взором Байкала?
И неужели мы будем в истории –
“Эти, Байкал загубили которые?”
Надо вывешивать бюллетень,
Как себя чувствует омуль, тюлень.
Это не только отстойников числа –
Совесть народа должна быть чистой.
Вот почему, указав показуху,
Борются наши прорабы духа,
Чтоб заповедником стало озеро,
Чтоб его воды не целлюлозило,
Чтобы никто никогда не сказал:
“Мертвое море – священный Байкал”.

HỒ

Andrei Voznesensky

Tỉnh giấc giữa đêm. Có người bảo tôi:
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.
Tôi cảm nhận một cái nhìn khốc liệt
Cứ như tôi – kẻ trộm, giết biển kia.
Tôi lắng nghe – người Irkut không ngủ
Hút thuốc trong sương. Cha ông thức giấc.
Khi người ốm, tất cả chúng ta cũng ốm.
Ôi Baikal, lá gan mỏng mảnh của nước ta!
Và ai đó từ hồ sâu nói tiếp:
“Baikal – lương tâm bảo tồn quốc gia”
Tôi bơi thuyền khắp quanh bờ hồ nước.
Buổi chiều đang thắp nến mơ hồ..
Nhưng không lẽ khoa học đi nói dối
Trước cái nhìn lật ngược của Baikal?
Và không lẽ rồi đây trong lịch sử
Chúng ta sẽ là kẻ bức tử Baikal?
Chắc là cần phải treo bảng thông tin,
Cá hồi trắng, hải ly khỏe hay đang ốm
Đó không phải là số những thằng khốn
Lương tâm nhân dân cần phải sáng trong.
Vì vậy nên, các đạo đức gia
Tích cực đấu tranh, chỉ ra bệnh thành tích
Để hồ nước thành khu bảo tồn đích thực
Để nước hồ không chứa xel-lu-lô
Để không ai có thể nói bao giờ
“Baikal thần thánh là Biển Chết”.

 

Tử đinh hương – Boris Pasternak

Tử đinh hương – Boris Pasternak

Có lẽ lã mấy hôm nay trời nóng quá, và xã hội hết lên đồng vì mấy con cá, lại đến mấy tấm biển hiệu đồng phục. Mình thì bỗng dưng nhìn thấy một bài thơ hay hay của Boris Pasternak. Thú thật là mình không thích nhà thơ này, dù ông ấy có được giải thưởng Nobel đi nữa, lý do là thơ quá khó hiểu.

Nhưng mà lúc đầu mình chỉ thấy có hai khổ thơ đầu tiên, nên chưa quá khó hiểu 🙂

Đến khi thấy cả bài thì đã muộn rồi.

siren

Сирень

Борис Пастернак

Положим, – гудение улья,
И сад утопает в стряпне,
И спинки соломенных стульев,
И чёрные зёрна слепней.

И вдруг объявляется отдых,
И всюду бросают дела.
Далёкая молодость в сотах,
Седая сирень расцвела!

Уж где-то телеги и лето,
И гром отмыкает кусты,
И ливень въезжает в кассеты
Отстроившейся красоты.

И чуть наполняет повозка
Раскатистым воздухом свод, –
Лиловое зданье из воска,
До облака вставши, плывёт.

И тучи играют в горелки,
И слышится старшего речь,
Что надо сирени в тарелке
Путем отстояться и стечь.

Tử đinh hương

Boris Pasternak

Hãy tưởng tượng – tiếng ong vo ve,
Và khu vườn chìm trong bếp núc,
Có cả những chiếc lưng ghế rơm,
Và loài ruồi trâu hạt đen nhưng nhức.

Rồi bỗng dưng có thông báo nghỉ,
Và mọi việc tạm dừng ở khắp mọi nơi.
Tong những tổ ong là tuổi trẻ xa xôi,
Tử đinh hương xám nở hoa lộng lẫy.

Chắc đâu đó có mùa hè, xe đẩy,
Và tiếng sấm rền quanh những bụi cây,
Trận mưa rào vào băng đĩa được ngay
Bên những sắc đẹp đã từ lâu trọn vẹn.

Và cỗ xe chỉ hơi nghiêng một chút
Không khí căng đầy điện tích vòm trời,
Có một tòa nhà tím làm bằng sáp,
Đứng cao tới mây, và bỗng nhiên bơi.

Và mây đen bắt đầu chơi đuổi bắt,
Có tiếng ai bỗng nghe thật rõ là,
Rằng hoa tử đinh hương trong đĩa,
Phải đứng lắng chút, và để nước chảy ra.

 

 

Tiếp tục thơ không đề của Anna Akhmatova

Thật khó tin, nhưng có người gửi mình bài thơ này nhờ dịch. Mình tự cảm thấy, bản dịch của mình mềm mại một cách không cần thiết so với bản gốc.

Анна Ахматова

Чем хуже этот век предшествующих? Разве
Тем, что в чаду печали и тревог
Он к самой черной прикоснулся язве,
Но исцелить ее не мог.

Еще на западе земное солнце светит
И кровли городов в его лучах блестят,
А здесь уж белая дома крестами метит
И кличет воронов, и вороны летят.
1919

Anna Akhmatova

Thế kỷ này tệ hại gì hơn trước?
– Trong khói mù lo lắng với đau buồn
Nó chạm đến vết loét đen tối nhất,
Nhưng không thể nào chữa được vết thương.

Phía tây mặt trời còn đang chiếu sáng
Những mái nhà lấp lánh dưới nắng vàng,
Cái chết trắng nơi đây phá tung nhà cửa
Hú gọi quạ bầy, và đàn quạ bay sang.
1919

Một bài thơ không đề của Anna Akhmatova

Thật tình cờ, khi một người bạn gửi mình bài thơ này nhờ dịch. Mình cảm thấy, bản dịch của mình chưa được như ý lắm, nhất là câu đầu. Nghe bản gốc nó đắng cay, tuyệt vọng, và vang lên hay hơn bao nhiêu, chứa chan thất vọng và chua chát. Còn bản tiếng Việt, cứ gọi là trôi tuột đi. Tuy nhiên, để lưu trữ thì thôi cứ để nó lên blog….

Наталии Рыковой

Всё расхищено, предано, продано,
Черной смерти мелькало крыло,
Все голодной тоскою изглодано,
Отчего же нам стало светло?

Днем дыханьями веет вишневыми
Небывалый под городом лес,
Ночью блещет созвездьями новыми
Глубь прозрачных июльских небес,-

И так близко подходит чудесное
К развалившимся грязным домам…
Никому, никому неизвестное,
Но от века желанное нам.

Tặng Natalia Rykova

Bị trộm, bị phản bội, bị bán đi tất cả,
Cánh tử thần đen tối thoáng hiện ra,
Và nỗi sầu đói khát đang nhai sống
Cớ sao mặt trời vẫn sáng trong ta?

Ban ngày cánh rừng ngoại ô thành phố
Lộng lẫy thở đầy hơi thở anh đào,
Ban đêm vòm trời tháng bảy sâu thăm thẳm
Lấp lánh thêm nhiều những chòm sao,

Và điều diệu kỳ đến gần, gần lắm
Tới những ngôi nhà sắp đổ nát mất rồi…
Điều mà còn chưa ai được biết
Nhưng chúng ta mong mỏi muôn đời.

Về Thành phố và Nàng Mèo

Một bạn vừa gửi tăng mình lời một bài hát về mèo. Có vẻ đây là một bài hát hiện đại, có vẻ có ẩn dụ gì đó nữa, mình cũng chưa tìm hiểu nhiều, nhưng thấy hay hay

Vì mỗi dòng thơ hơi dài, nên mình không trình bày dưới dạng cột.

Về Thành phố và Nàng Mèo
Sasha Bes

Nàng đi trên nóc nhà và nóc xe
Nàng quên hết những ai từng chơi xấu
Nàng là mèo cả người lẫn nết
Thành phố dưới chân nàng nhỏ bé, đáng yêu.

Nàng căm ghét chó đực và chó cái
Nàng say mê loài lông vũ cánh tung bay
Nàng không biết bay, nhưng độ cao nàng thích
Cười đểu vào những người xua nàng “Hãy cút ngay!”

Nàng chỉ thích uống nước và uống sữa
Luôn đi vòng ở những chỗ nước sâu
Cặp mắt xanh nhìn những giấc mơ cổ tích
Điều quan trọng không lời, lời lẽ ích gì đâu

Nàng mỉm cười, giai điệu mèo đơn giản
Chỉ thân thiết với ai lịch sự cùng nàng
Thành phố dưới chân nàng nhỏ bé, thân thuộc
Bởi vì rằng thành phố rất hiểu nàng.

Про Город и его Кошку

Саша Бес

Она ходила по крышам домов и машин
Она забывала всех тех, кто портил ей жизнь
Она была кошкой и грацией и душой
А Город под ней был уютный и небольшой

Она ненавидела всех кобелей и сук
Она обожала птиц за свободу рук
Она не умела летать, но любила высь
Она хохотала над тем, кто шипел ей: «Брысь!»

Она признавала лишь воду и молоко
Всегда обходила то место, где глубоко
Смотрела своими зелеными сказки снов
И знала: Слова бесполезны – важно без слов

Она улыбалась, мурлыча простой мотив
Была импозантна лишь с теми, кто был учтив
А Город под ней был уютный и дорогой
Ведь Город ее понимал как никто другой

17.11.08

Hình ảnh tìm trên mạng, chỉ có tính chất minh họa

meo

 

Gạt ước mơ qua… Anna Akhmatova

Tự dưng hôm nay lúc ngồi đợi, mình thấy mấy bức ảnh này của RIA, và ngẫu nhiên dịch. Đến khi về nhà xem lại, mới thấy, bài thơ này của Anna Akhmatova không quá phổ biến, nhưng chắc chắn, vẫn là bài thơ hay. Ít nhất là với mình, vì mình cảm thấy nhói lòng…

* * *
Анна Ахматова

Отодвинув мечты и устав от идей,
Жду зимы как другие не ждут.
Помнишь, ты обещал, что не будет дождей?
А они всё идут и идут…

Удивлённо смотрю из квартирных окон-
Я во сне или всё ж наяву?
Помнишь, ты говорил, что вся жизнь – это сон?
Я проснулась, и странно, живу…

А назавтра опять мне играть свою роль,
И смеяться опять в невпопад.
Помнишь, ты говорил, что любовь – это боль?!
Ты ошибся, любовь – это ад…

* * *
Anna Akhmatova

Mệt vì ý tưởng, gạt ước mơ qua,
Em đợi mùa đông, như người ta không đợi.
Anh có nhớ, anh hứa, mưa không tới?
Nhưng bây giờ mưa vẫn tuôn rơi…

Em ngạc nhiên nhìn từ khung cửa sổ –
Em đang mơ, hay thực tại là đây?
Anh có nhớ, anh nói, đời là mộng?
Em tỉnh giấc rồi, mà vẫn sống, lạ thay…

Rồi ngày mai em tiếp tục diễn vai,
Và sẽ lại cười không phải lúc.
Anh từng nói, tình yêu là nỗi đau?
Anh nhầm rồi, tình yêu là địa ngục.

Hôm nay là kỷ niệm ngày Anna Akhmatova qua đời – tròn 50 năm trước…