Giá mà cuối tuần này mình đi Plyos…

Với cá nhân mình, cái tên Plyos gắn với Levitan. Hồi bé đọc quyển tiểu sử họa sĩ, mình vẫn nhớ đoạn tả lần đầu ông thấy Plyos khi cùng các bạn đồng hành đi tàu theo sông Volga nhằm tìm một địa điểm cảnh trí thơ mộng để sáng tác.

Đột nhiên một quả đồi xanh mướt hiện ra…Một nhà thờ gỗ….

Và Levitan quyết định ngay: đây chính là nơi ông cần đến. Thế là họ xuống tàu và dừng chân ở Plyos…

Trong các năm 1888-1890 Levitan sống mỗi năm đến 6 tháng ở Plyos. Trong thời gian này ông đã vẽ 20 bức tranh và gần 200 phác thảo trực tiếp tại hiện trường, hoặc vẽ sau đó theo trí nhớ. Những bức tranh này là nền móng cho sự nổi tiếng của Levitan.

Над вечным покоем

Đây là bức “Trên sự yên tĩnh vĩnh hằng” (Над вечным покоем).

Nhà thờ trong bức tranh trên là nhà thờ gỗ ở Plyos, mà trên các phác thảo họa sĩ vẽ “trong những tia nắng cuối cùng của mặt trời”.

Bức tranh này tên nó đã nói lên tất cả:

Buổi chiều. Plyos vàng

Buổi chiều. Plyos vàng

Buổi chiều. Plyos vàng.
Вечер. Золотой Плёс

Nhà thờ trong tranh là Nhà thờ Thánh Varvara ở Plyos

Nhà thờ thánh Varvara ở Plyos

Nhà thờ thánh Varvara ở Plyos

Levitan có thể không phải họa sĩ phong cảnh tuyệt vời nhất thế giới, có điều tác phẩm của ông đã may mắn (hay bất hạnh) lọt vào mắt mình lúc mình còn chưa biết gì mấy về hội họa nói riêng và mọi thứ nói chung. Khi mà chỉ thỉnh thoảng thấy mấy bức tranh của các họa sĩ Việt đăng trong họa báo Việt Nam, mà cá nhân mình thấy là … xấu, người chẳng giống người, cây chẳng giống cây, và tưởng … vẽ xấu như thế mới là hội họa. Với một học sinh cấp 2 hiểu biết hạn hẹp như vậy, thì tranh của Levitan đã làm mình choáng và ấn tượng mạnh mẽ. Vì đơn giản là chỉ cần nhìn bức tranh in trong cuốn sách tiểu sử của ông là biết ngay – nó đẹp. Và cũng vì cuốn sách tiểu sử này, mà cái tên Plê-xơ (phiên âm của địa danh Plyos trong cuốn sách đó) đã khiến mình nhớ.

Thế cho nên thật bất ngờ tìm được một bài viết dễ thương về Plyos hiện đại. Đây là bài viết với góc nhìn của một bạn trẻ thích du lịch, nên chẳng nói gì về Levitan. Nhưng mình tin rằng bản sắc Levitan vẫn đâu đó trong không khí của Plyos…

Link bài viết gốc của bạn ấy ở trang http://vgosti.net/, à, tên bạn ấy là Andrei, nhưng URL dài quá nên mình thu ngắn lại:  http://goo.gl/jgHUaH và http://goo.gl/deu5gl. Ảnh lấy trong bài của bạn ấy luôn, chắc là bạn ấy chụp

ples1

Những con đường phẳng phiu, đường phố sạch sẽ, những ngôi nhà tươm tất, dân cư vui vẻ và thân thiện, món nấm băm và cá chép trong quán cà phê gia đình. Mùa đông thì trượt tuyết trên núi, mùa hè thì nước trong vắt, còn không khí sạch tinh thì quanh năm. Âm nhạc nhẹ nhàng trên đường ven bờ sông sáng đèn, hội chợ giáng sinh, những quầy hàng lưu niệm, cửa hàng đồ cổ và quán cà phê ấm cúng cho khách sành ăn. Phòng khách sạn chỉn chu, hoặc nhà nghỉ với những chủ nhân mến khách. Rồi còn cả phòng hòa nhạc, những buổi tối nhạc – thơ và festival điện ảnh. Và còn nữa, còn nữa…

Thật khó tin, rằng đó không phải là những thành phố nghỉ mát ở Thụy Sỹ hay Áo, mà là thành phố Plyos nhỏ bé vùng Ivanovo, mất hút trong khoảng không gian Nga mênh mông. Dường như ở nước Nga hiện đại thì cụm từ “thành phố thịnh vượng và bình an ở vùng xa” hoàn toàn là không thể có, nhưng ở Plyos thì cụm từ này có những nét rất cụ thể. Đây quả thật là một nơi đáng đến ở nước Nga hiện đại, và càng ngày càng nhiều người đến đây.

ples3

Bất kỳ một người du lịch có kinh nghiệm nào cũng biết, điều kiện cần để có ấn tượng tốt về chuyến đi sẽ là sự bình an và thịnh vượng ở thành phố đến. Đó là bí quyết của nhiều thành phố nhỏ nước Áo, hầu như không có thắng cảnh gì, nhưng lại được nhiều khách du lịch Nga yêu thích. Dù khách sạn của bạn có tuyệt vời thế nào đi nữa, nhưng nếu ở một khu vực không phù hợp thì ấn tượng sẽ vẫn bị xóa mờ.

Chính cái cảm giác rằng ở nơi nào trong thành phố cũng sạch sẽ và an toàn như nhau, quán cà phê nào cũng có đồ ăn ngon lành, xe cộ sẽ chạy đúng giờ là cái mà du khách Nga cần. Và đối với khách du lịch Nga thì Plyos chính là nơi lý tưởng – không xa, đậm tính chất Nga và cảm giác thoải mái mọi chỗ.

ples2

Thành phố này thường xuyên trở thành sân chơi cho các sự kiện văn hóa khu vực và Liên Bang. Ví dụ như Liên hoan phim Quốc tế “Tấm gương” (Зеркало) mang tên Andrey Tarkovsky, Liên hoan phim Nga “Plyos ở Volga. Bảng màu len” (Плес на Волге. Льняная палитра).

Việc đầu tiên là muốn tìm một câu trả lời đơn giản cho sự hồi sinh bí ẩn của Plyos cho nó yên tâm. Nhưng mà tìm kiếm chẳng được gì – trên vùng đất này không có mỏ dầu hay khí đốt hoặc loại khoáng sản nào cho sự thịnh vượng nhanh. Thành phố nằm trên bờ sông ư, có hàng đống, bảo tàng thì ở đâu chả có. Nhưng điều chủ yếu ở Plyos là con người và quy mô nhỏ, nhờ đó mà thành phố có thể tự lực phát triển. Kinh nghiệm này quả là độc đáo.

ples4

Từ Moskva có thể đến Plyos bằng nhiều cách. Khoảng cách đường ô tô là khoảng 370-380 km tùy vào tuyến đường. Nếu đi xe lửa, chúng ta có thể tới Ivanovo, hoặc Kostroma rồi đi xe buýt. Cũng có chuyến xe vận tải hành khách đi thẳng từ Moskva đến Plyos với tổng cộng 7g trên đường đi. Nếu đi máy bay thì mất khoảng 1g để từ Moskva đến Ivanovo, hoặc Kostroma. Cũng có thể đi tàu thủy trên sông Volga, tàu sẽ cập bến ở trung tâm Plyos.

Ồ, giá mà cuối tuần này mình đi Plyos nhỉ…

Một bài thơ về Gorbachev

Tự dưng hôm nay thấy lại một bản dịch cũ về Gorbachev. Thú thật là mình chưa bao giờ cảm tình với bác này, nên mới đi dịch mấy câu gọi là trào phúng  quái đản thế này:

* * *

Так и сошел со сцены Горби,
Так и покинул пьедестал.
Предметом всенародной скорби
Его уход отнюдь не стал.

И все ж сказать ему спасибо,
Хотя б подать ему пальто
Вполне мы, думаю, могли бы.
Да воспитание не то.

Игорь Иртеньев, 1998 г.

* * *

Thế là Gorby đã rời sân khấu
Thế là Gorby rời bục vinh quang.
Cuộc giã biệt đã không thành thứ
Khiến toàn dân đau đớn bàng hoàng.

Dù sao thì nói với ông “Cám ơn”
Hay đưa giúp cho ông chiếc áo khoác
Thì chắc chúng ta cũng làm được.
Nhưng giáo dục của chúng ta hơi khác.

Igor Irteniev, 1998

Thú thật là mấy câu thơ ấy mình đọc được ở đây: http://www.levada.ru/press/2010031101.html

Đại tá – Alpha

Ngày 26/3/2001 Vladimir Putin được bầu làm tổng thống nước Nga. Ngày hôm nay là kỷ niệm 10 năm, số đẹp ra trò. Chị USY giới thiệu cho mình một bài thơ vui phết, nên mình nhắm mắt dịch bừa 🙂

Tác giả bài thơ này là bình luận thi ca của Gazeta.ru. Bài thơ này được đăng ở http://www.gazeta.ru/column/irtenyev/3565753.shtml


Continue reading

Nhà thờ Vasily Khổ hạnh – bức tranh mã hóa của một nhà thờ hồi giáo đã chết

Thực ra bài này mình dịch từ năm 2006, rồi quên bẵng đi mất. Bẵng đi một thời gian, tư nhiên thấy nó xuất hiện ở mấy nơi nữa (giống bài gốc từng chỗ dịch gượng, dịch ẩu), có nơi để nguồn, có nơi ghi… tác giả khác. Thôi chắc cũng nên đẩy nó lên đây, chia sẻ với bạn đọc thầm lặng của cái xó này, keke…

 

Nhà thờ Vasily Khổ hạnh – bức tranh mã hóa của một nhà thờ hồi giáo đã chết

Theo RIA Novosti

Nhà thờ Vasily Khổ hạnh tọa lạc trên Quảng trưởng Đỏ – một công trình kiến trúc tuyệt đẹp và độc đáo, biểu tượng thật sự của Matxcơva và nước Nga

Quốc ca, thơ thiếu nhi và hậu duệ tài năng. Những gì Sergei Mikhalkov để lại.

Lưu Hải Hà (NuocNga.net) dịch
Theo RIA Novosti


Ngày 27/8 nhà thơ, nhà văn Nga Sergei Mikhalkov đã qua đời, thọ 97 tuổi. Ông là tác giả của hai bản Quốc ca Liên Xô, một bản Quốc ca Nga, là người sinh ra ở Đế quốc Nga, sống ở Liên Xô và qua đời ở Nga.

Theo lời của Egor Kolchalovsky, cháu nội nhà văn, Sergei Vladimirovich đã “qua đời vì tuổi già, ông đơn giản ngủ thiếp đi”.

Bí mật của Sergei Mikhalkov


Mấy thế hệ trẻ em Liên Xô và Nga đã lớn lên với những bài thơ của Sergei Mikhalkov. “Thế các cậu có gì”, “Chú Stepa”, “Ba mươi sáu và năm”, “Một ngày quan trọng”, “Chúng tôi và người bạn” (“А что у вас”, “Дядя Степа”, “Тридцать шесть и пять”, “Важный день”, “Мы с приятелем”) và nhiều bài thơ khác. Và hôm nay, khi những độc giả đầu tiên của Mikhalkov đã lên chức ông bà, thì thơ và ngụ ngôn của ông vẫn được xuất bản với tia-ra lớn. Chính vì thế mà nhà thơ tự gọi mình là triệu phú, vì sự giàu có của ông được thể hiện không phải bằng tiền, mà ở số lượng sách của ông đã được in – hơn 200 triệu bản.

Sergei Mikhalkov năm 1915

Sergei Mikhalkov năm 1915

Sergei Mikhalkov bắt đầu sáng tác từ thời thơ ấu. “Cùng với dao gọt bút chì và súng cao su, trong tủ của tôi còn có một quyển vở với những bài thơ đầu tiên của tôi được chép sạch sẽ. Trong số đó có cả ngụ ngôn với tên là «Văn hóa”, và nói về việc “nên giúp đỡ người khác không chỉ bằng lời nói, mà cả việc làm”. Khi đó tôi mới tròn mười tuổi” – nhà văn viết trong tiểu sử tự thuật của mình.

Một hôm, sau khi sáng tác một truyện cổ tích bằng thơ và chép lại bằng kiểu chữ in, Mikhalkov đem truyện đến một trong những nhà xuất bản Moskva đến tận tay “tổng biên tập”. Một tuần sau, Mikhalkov nhận được lời từ chối của nhà xuất bản, nhưng vẫn kiên trì tiếp tục sáng tác.

Khi Mikhalkov 15 tuổi, bài thơ “Con đường” của ông được công bố trong tạp chí “Vươn lên” (Rostov-na-Donu). “Đừng nên say mê quá, hãy học làm việc và gửi cho chúng tôi những bài thơ của mình” – đó là những gì thư ký tòa soạn viết cho Mikhalkov lúc đó.

Sau đó, khi gia đình nhà thơ trẻ chuyển đến Piatigorsk, Mikhalkov gia nhập tập thể các nhà văn vô sản vùng Tersk, và thơ của Mikhalkov bắt đầu xuất hiện trên các trang của tờ báo “Terek” vùng Piatigorsk. Sau khi tốt nghiệp phổ thông Mikhalkov đến Moskva, nhưng nhuận bút từ nghề viết ít ỏi khiến Mikhalkov phải kiếm sống thêm bằng cách làm công nhân tại nhà máy dệt Moskvoretskaya.

Bù lại, Mikhalkov trở nên nổi tiếng. Những bài thơ và bài hát của nhà thơ 20 tuổi không chỉ được đăng trên báo chí, mà còn vang lên từ sân khấu tạp kỹ. Và trong bộ sưu tập của Mikhalkov cũng xuất hiện những giải thưởng đầu tiên tại các cuộc thi văn chương khác nhau.

Mặc dù vậy, Mikhalkov tự thừa nhận rằng trong những năm tháng ấy thơ của ông cũng giống giống thơ của nhiều nhà thơ trẻ. Cần phải có thời gian, để tìm ra phong cách của mình, giọng thơ của mình. Các nhà văn như  Samuil Marshak, Agnia Barto và Kornei Chukovsky đã có ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ, và Mikhalkov cũng đánh giá cao sáng tác của nhà văn Thụy Điển Astrid Lindgren.

Trong 96 năm cuộc đời mình, Mikhalkov đã trải qua sự sụp đổ của nước Nga Sa hoàng, Cách mạng Tháng Mười, và cả Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại. Từ những ngày đầu chiến tranh, Mikhalkov làm phóng viên quân sự ban đầu tại Mặt trận phía Nam tại tờ báo Hồng quân “Vì vinh quang Tổ quốc”, rồi sau đó làm việc ở tờ báo “Chim ưng Stalin”. Thời kỳ này Mikhalkov viết bút ký, thơ chính trị, các truyện ngắn hài hước, và viết truyền đơn dành cho du kích.

“Tôi không bao giờ quên được cái đêm lạnh giá ấy ở sân bay dã chiến, khi tôi tiễn các phi công mặt trận Tây bắc đi làm nhiệm vụ – tôi cảm thấy hồi hộp không thể diễn tả nổi. Người ta đem những bó truyền đơn lên máy bay… Đó là những thông điệp thơ của tôi gửi đến các chiến sĩ du kích của chúng ta”, – Mikhalkov hồi tưởng. Vào năm 1944, từ những bài thơ chính luận ấy mà tác phẩm “Truyện dành cho trẻ em” đã ra đời.

Và chính thơ thiếu nhi là công việc chủ yếu của cuộc đời Mikhalkov, còn thiếu nhi đã và đang tiếp tục tặng lại ông tình yêu trẻ thơ cho đến tận bây giờ. Chính nhà văn cũng không hiểu được nguyên nhân sự nổi tiếng của mình giữa thiếu nhi. “Không phải tôi chọn trẻ em, mà chính trẻ em đã chọn tôi. Tại sao ư? Đối với tôi đó là một điều bí ẩn”, – ông nói.

Bìa cuốn sách

Bìa cuốn sách “Chú Stepa” của Sergei Mikhalkov

Mà cũng có thể, vấn đề là ở chỗ, như Egor Kolchalovsky, cháu nội của ông nói, người ông vĩ đại trong tâm hồn vẫn là một cậu học sinh.

Và dù rất đáng ngạc nhiên, nhưng chính nhà thơ thiếu nhi danh tiếng ấy đã trở thành tác giả ba bản quốc ca. Bài thứ nhất – Quốc ca Liên Xô “của Stalin” – ông sáng tác từ năm 1944 cùng với đồng nghiệp ở tờ báo “Chim ưng Stalin” – Gabriel Arkadievich Ureklian, người viết với bút danh G. El-Registan.

Nhưng phiên bản quốc ca đầu tiên không làm cho Stalin hài lòng, và ban đêm, các nhà thơ nhận được cuộc điện thoại.

“Hy vọng là tôi không đánh thức các anh chứ? – Stalin hỏi. – Hôm nay chúng tôi nghe quốc ca. Nhưng nó cụt lủn quá”. “Đồng chí Stalin, điều đó phải hiểu như thế nào?”, – các nhà thơ hỏi. “Quá ít lời. Chẳng nói gì về Hồng quân cả. Cần phải bổ sung thêm một đoạn nữa. Phản ánh vai trò của quân đội chúng ta trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Cho thấy sức mạnh của chúng ta và niềm tin vào chiến thắng”. “Đồng chí Stalin, khi nào thì chúng tôi phải làm xong việc này?” – Mikhalkov hỏi. “Khi nào các đồng chí viết xong thì gửi cho chúng tôi. Còn chúng tôi sẽ xem xét”, – Stalin trả lời khô khốc và đặt ống nghe xuống.

Suốt phần đêm còn lại hai nhà thơ sáng tác quốc ca mới, và đến cuối ngày hôm sau thì phần lời đã sẵn sàng. Ở Điện Kremlin họ tiếp tục chỉnh sửa lời thơ với những góp ý mới của Stalin. Sau này khi trả lời phỏng vấn báo “Argumenty i fakty” (Аргументы и факты), Sergei Mikhalkov sẽ nói: “Biên tập viên của tôi là Stalin”.

Và các tác giả được mời ra phòng khách để ăn mừng việc hoàn tất quốc ca, nơi một bàn tiệc đã bày sẵn. Sau những lời chúc mừng, Stalin quay sang Mikhalkov và nói: “Không cần phải cạn cốc sau mỗi lời chúc rượu đâu. Khi đó nói chuyện với các anh sẽ chẳng có gì thú vị. Và đừng có nhút nhát nhé!”

“Đồng chí Stalin, nhưng tôi không nhút nhát!” – Mikhalkov trả lời. “Chúng tôi không thích những kẻ thô thiển, – Stalin tiếp tục, – nhưng cũng không thích những người nhút nhát. Anh là đảng viên chứ?” Nhà thơ trả lời: “Tôi không theo đảng phái”. Khi đó Stalin im lặng và nhận xét: “Chẳng sao cả. Tôi cũng không theo đảng phái”.

Bây giờ phần lời của bản quốc ca “nguyên gốc”, quốc ca Stalin vẫn có thể đọc được tại nhà ga tàu điện ngầm Kursk vừa phục chế cách đây không lâu.

Dòng thơ của Mikhalkov tại ga tàu điện ngầm Kursk ở Moscow

Năm 1977, sau khi thông qua Hiến pháp Liên Xô mới, Sergei Mikhalkov biên tập lại phần lời cho Quốc ca Liên Xô: từ lời cũ cần phải bỏ ra tên của Stalin, cũng như phải lưu ý đến một số điểm cho phù hợp với tình hình hiện tại. Từ Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô khi nạn sùng bái cá nhân bị vạch trần cho đến khi xuất hiện phiên bản lời mới, Quốc ca Liên Xô là “bài hát không lời”.

Hai mươi năm sau Mikhalkov lại phải viết phần lời mới của quốc ca, nhưng đã ở một quốc gia khác với tên gọi khác. Năm 2001 quốc ca mới vang lên ở khắp nước Nga. Khi đó nhà văn nói trong một bài phỏng vấn, rằng ông chân thành muốn được sáng tác “quốc ca cho quốc gia chính thống giáo”.

Tài sản gia đình

Không chỉ một thế hệ trẻ em đã lớn lên với những tác phẩm của Sergei Mikhalkov, và trong số trẻ em đó có cả con, cháu và chắt của nhà thơ. Trong dòng họ Mikhalkov-Konchalovsky nhiều tài năng, ngoài hai cậu con trai – hai đạo diễn nổi danh, còn có 11 người cháu và cũng gần bằng chừng đó chắt của Sergei Mikhalkov.


Nhà thơ Sergei Mikhalkov và con trai Nikita năm 1952. Ảnh: Dmitri Baltermants (Дмитрий Бальтерманц)

Sergei Mikhalkov làm quen với Natalia Konchalovskaya – nữ nhà văn, cháu gái của họa sĩ Surikov tại Moskva năm 1936, khi Mikhalkov 23 tuổi, còn Konchalovskaya thì 33 tuổi. Họ chung sống với nhau 53 năm, cho đến khi Konchalovskaya qua đời năm 1988.

Nhà thơ Mikhalkov tái giá 13 năm trước, ông lấy Julia Subbotina – một nhà vật lý lý thuyết.

“Lần lập gia đình đầu tiên tôi trẻ hơn vợ mình mười tuổi. Còn lần thứ hai – tôi hơn vợ bốn mươi bảy tuổi. Và cả hai lần bạn bè và người quen đều nghi ngờ rằng chúng tôi sẽ chẳng có một gia đình hạnh phúc khi tuổi tác chênh lệch đến thế” – Sergei Mikhalkov nói.

Hai con trai của Sergei Mikhalkov là hai đạo diễn điện ảnh nổi tiếng thế giới, nghệ sĩ nhân dân Nga – Andrei Mikhalkov-Konchalovsky và Nikita Mikhalkov. Ngoài họ ra, các thành viên khác trong gia đình Mikhalkov cũng có sự nghiệp điện ảnh của mình.

Các cháu nội của Sergei – Egor Konchalovsky là đạo diễn; Artiom Mikhalkov – diễn viên, biên kịch và đạo diễn; Stepan Mikhalkov – diễn viên và nhà sản xuất; Anna và Nadezhda Mikhalkova – diễn viên

Mặc dù vậy, Sergei Mikhalkov không hề có chế độ giáo dục đặc biệt nào để nuôi dạy con cháu thành những cá nhân nổi bật như vậy.

Gia đình Mikhalkov kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Sergei Mikhalkov

“Giáo dục gì… – ông nói. – Tôi chẳng bao giờ quan tâm đặc biệt tới việc học hành, sự nghiệp, sự nổi tiếng của chúng. Tôi không bao giờ tác động tới sự lựa chọn của con cháu. Chúng tự chọn đường, và tự tìm đường đi cho mình; và đạt được thành công nhờ tài năng của mình. Tôi hài lòng với đám con nít của mình. Mặc dù chúng chẳng còn con nít gì nữa … một đứa đã ngoài 60, đứa kia thì ngoài 70 rồi”.

Những bí mật của Moskva: nơi đâu có những cây sồi “cổ xưa” nhất, và “mosk” có nghĩa là gì

Theo AIF và báo chí Nga

Thủ đô Moskva của Nga là một trong những thành phố lớn đẹp nhất thế giới với lịch sử và truyền thống nhiều thế kỷ của mình. Nhưng Moskva cũng rất bí ẩn, độc đáo, và cuốn hút người ta bằng những truyền thuyết, chuyện kể và nhiều sự kiện lý thú. Nhiều nhà sử học cho rằng Moskva có tên như vậy là từ tên của con sông chảy qua gần đó. Theo một giả thiết khác, “Moskva” có nguồn gốc Phần Lan. Trước đây trên bờ sông là các làng xóm của các bộ lạc Phần Lan: “Mosk” có nghĩa là con gấu, còn “va” thì có nghĩa là nước.

Một giả thiết khác thì cho rằng tên của thủ đô Nga xuất phát từ những người Sla vơ cổ, mà trong ngôn ngữ Sla vơ cổ thì “moskva” có nghĩa là “ẩm ướt”.

Tên của những phố đầu tiên của Moskva cũng gắn với đặc điểm của địa phương. Ví dụ cổng thành Kremlin thời trước có tên là Borovitsky, bởi vì xung quanh tường pháo đài là rừng thông thật sự (бор); trên bờ sông, nơi rêu (Мох) phủ đầy thì xuất hiện phố Mokhovaya (Phố rêu); còn phố Bolotnaya (đầm lầy) thì có tên là do cái đầm lầy (болото) nho nhỏ vốn ở đây trước đó.

Các khai quật khảo cổ cho thấy, tại vị trí Moskva ngày nay trước đây là nơi sinh sống của những người cổ đại sống bằng săn thú và bắt cá, còn nơi sông Neglinnaya đổ vào sông Moskva thì trước đây là một thành phố khá lớn của những người sống bằng chăn nuôi.

Hiện nay Moskva là một trong những đô thị lớn nhất thế giới với dân cư hơn 10 triệu người, nền kinh tế và thông tin liên lạc phát triển. Mỗi ngày có hơn 12 triệu lượt người sử dụng phương tiện giao thông trên mặt đất, còn hệ thống đường tàu điện ngầm (metro) ở Moskva có chiều dài 278 km. Nói chung lịch sử hệ thống metro ở Moskva cũng rất thú vị, bí ẩn và chứa nhiều sự kiện lý thú. Hệ thống metro ở Moskva bao gồm 12 tuyến và 172 nhà ga. Đại đa số các nhà ga ngầm dưới đất, nhưng cũng có các nhà ga ở trên mặt đất.

Ngoài ra, đến tận ngày nay vẫn có những tin đồn về đường metro bí mật được xây dựng dường như để đảm bảo liên lạc giữa điện Kremlin và các cơ quan khác với các boongke trú ẩn trong trường hợp nguy hiểm. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào xác thực tin trên.

Cũng có rất nhiều truyền thuyết về những kho tàng của quý báu của các tu sĩ dòng Đền. Có tin đồn là các kho báu này được bí mật đem ra khỏi Paris trong thời gian dòng tu này sụp đổ. Còn ở Moskva thì có những dấu vết sự lưu trú của các tu sĩ dòng Đền, ví dụ ngày nay vẫn có thể nhìn thấy trên các bức tường tu viện Thánh Danil.

Năm 1841 lần đầu tiên ở Moskva xuất hiện dường ống dẫn nước, còn hệ thống cống ngầm thoát nước – năm 1898. Năm 1872 thì hệ thống điện báo của Moskva đi vào hoạt động, còn mười năm sau đó – hệ thống điện thoại. Chiếc thang máy đầu tiên có mặt ở Moskva năm 1901.

Hình ảnh chính trên huy hiệu Moskva – Thánh Georgy Người đem lại chiến thắng đang dùng giáo đâm một con rắn thần thoại và biểu tượng cho chiến thắng trước mọi kẻ thù định xâm chiếm thành phố. Và bài hát “Moskva của tôi” được lấy làm cơ sở của bài “thành phố ca” – nhạc của I.O.Dunaevsky, lời của M.S.Lisiansky và S.I.Agranian.

Bài hát “Moskva của tôi” (Моя Москва) do  Dmitriy Hvorostovsky và Dàn nhạc Thính phòng Moskva trình bày.

Ngày 29 tháng sáu năm 1904 một cơn lốc mạnh đã đi qua Moskva, khiến cho một số làng bị phá hủy. Cơn lốc này đã làm đổ những cây cối trăm năm tuổi ở công viên Sokolniki, phá hủy nhà cửa ở vùng Lefortovo. Cơn lốc này mạnh đến nỗi khi nó đi ngang qua sông Moskva, nó đã cuộn nước sông lên đến tận đáy.

Những cây cối lâu đời nhất – đó là những cây sồi ở công viên Kolomensk, đây là những cây sồi cùng tuổi với thành phố Moskva.

Những cây sồi ở công viên Kolomensk. Ảnh: Aleksei Lanskih

Không tính đến đường nhựa, thì phố dài nhất ở Moskva là phố Profsoyuz (Профсоюзная улица ) – dài 14 km, còn phố ngắn nhất – phố Venesianov (улица Венецианова) – dài 48m. Phố rộng nhất Moskva – Đại lộ Lenin, rộng từ 108 đến 120 m.

Đường phố “lâu đời nhất” ở Moskva là phố Velikaya (улица Великая). Phố này đã từng được nhắc đến trong sử sách từ năm 1468.

Quảng trường lớn nhất ở Moskva là Quảng trường Đỏ với 75 000 km². Quảng trường cổ nhất là Quảng trường Sobornaya của Kremlin.

Bảo tàng độc đáo nhất của Moskva có lẽ là Bảo tàng nước. Còn những chiếc ghế dài lạ nhất thì ở trong vườn của Art-muzeon, bên cạnh Nhà Hội họa Trung tâm. Ở đây có ghế – bảng pha màu, ghế “hạt bánh mì”, ghế-con rết.

Hai trong số những viên kim cương nổi tiếng nhất thế giới là ở Quỹ kim cương ở Moskva. Một viên có tên là “Shah” (Шах), nặng 88 cara. Trên viên kim cương này có thể thấy rõ tên của những người chủ trước đó của nó. Theo số liệu lịch sử, năm 1829 viên kim cương này được sa Teheran (vua Iran khi đó) tặng cho Nikolai I để hòa giải sau khi sứ quán Nga ở Iran bị đập phá, và nhà ngoại giao – nhà thơ A.S.Griboedov bị giết. Một viên kim cương khác “Orlov” (Орлов) là viên lớn nhất trong bộ sưu tập của Quỹ kim cương. Người ta cho rằng nó được tìm thấy ở Ấn Độ và là con mắt của bức tượng Phật. Sau này bá tước Orlov đã mua nó để tặng cho Ekaterina II./.

Thợ làm bánh mì ở Moscow xưa – Vladimir Gilyarovsky

Nhân các bạn nói đến bánh mì đen, Nina xin dẫn ra một phần trong cuốn sách “Moscow và người dân Moscow” của Vladimir Gilyarovsky, nhà báo nổi tiếng thời kỳ cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, viết về một bác thợ làm bánh mì danh tiếng ở Moscow.

Nguồn: http://www.lib.ru/RUSSLIT/GILQROWSKIJ/gilqrowskij.txt

Владимир Гиляровский. Москва и москвичи

БУЛОЧНИКИ И ПАРИКМАХЕРЫ

Thợ làm bánh mì ở Moscow xưa – Vladimir Gilyarovsky

Фото и выпечка Максима Сырникова

..Trên phố Tverskaya, đối diện với ngõ Leontievsky là ngôi nhà cao cao của người thợ làm bánh mì trước đây Philippov. Cuối thế kỷ 19, ông đã xây lại từ ngôi nhà hai tầng dài, vốn thuộc cha ông, người thợ nổi tiếng khắp Moscow với những chiếc bánh mì của mình

Philippov nổi tiếng đến nỗi Shumakher, nhà thơ có tiếng của Moscow đã nhắc đến cái chết của ông bằng bốn câu thơ mà cả Moscow đều biết đến

Hôm qua lại qua đời thêm người nữa
Vốn Moscow biết mặt, biết tên
Công tước Đại Gián Ivan Philippov
Đoàn gián chịu tang đầy tiếng khóc rên

Cửa hàng bánh mì của Philippov luôn luôn đầy người mua. Ở góc xa, quanh những chiếc hòm sắt nóng luôn luôn là cả một đám đông ăn những chiếc bánh rán nổi tiếng của Philippov nhân thịt, trứng, gạo, nấm, phó mát tươi, nho khô và mứt. Công chúng — từ những thanh niên đang đi học đến những công chức già, từ các mệnh phụ sang trọng đến các nữ công nhân ăn mặc nghèo nàn. Rán bằng dầu tốt, với nhân thịt mới, chiếc bánh rán giá 5 cô pếch to đến nỗi đôi khi có thể cho người ta ăn sáng no nê. Chiếc bánh này được bán từ thời Ivan Philippov, người sáng lập hiệu bánh mì. Ông Ivan Philippov nổi tiếng ra cả ngoài ranh giới Moscow bằng những chiếc bánh mì đủ loại của mình, mà cái chính là nhờ bánh mì đen chất lượng tuyệt hảo.

Các giá để hàng phía bên trái hiệu bánh vốn có lối đi riêng, thì luôn luôn được một đám đông bao quanh, họ mua bánh mì đen và trắng.

— Bánh mì đen là thực phẩm quan trọng nhất cho người lao động – Ivan Philippov nói

— Tại sao chỉ có ở chỗ ông thì bánh mì đen mới ngon? – người ta hỏi ông.

— Vì bánh mì thích được quan tâm. Tất nhiên là việc nướng thì quan trọng rồi, nhưng bí quyết nằm ở bột. Nhà tôi là không có bột mua, tất cả là của nhà, hắc mạch tuyển tôi mua tại chỗ, tại các cối xay cũng có người của tôi, để đảm bảo không có cọng cỏ, hạt bụi nào lẫn vào … Nhưng dù sao thì hắc mạch cũng khác nhau, cần phải chọn. Nhà tôi mua hắc mạch chủ yếu là ở Tambov, gần Kozlov, từ cối xay Rominskaya là có bột tốt nhất. Và rất đơn giản! – ông luôn luôn kết thúc lời mình bằng câu nói mình yêu thích.

Mỗi ngày người ta chở bánh mì đen, bánh mì trắng tới Peterburg tới cung điện Sa hoàng. Người ta đã thử nướng bánh tại chỗ, nhưng không thành công, và ông già Philippov chứng minh rằng ở Peterburg không thể nướng được những chiếc bánh mì như thế.

— Tại sao vậy?

— Và rất đơn giản! Nước sông Neva không thích hợp!

Ngoài ra, — thời đó còn chưa có đường sắt, — mùa đông những đoàn xe thồ với bánh mì các loại, bánh mì khô của ông, nướng trên rơm đi khắp các nẻo đường, thậm chí cả Sibir. Người ta lấy chúng ra thẳng từ lò còn nóng bỏng, làm đông lạnh chúng bằng một cách nào đó đặc biệt, và chở đi xa hàng ngàn dặm, ngay trước bữa ăn thì hâm nóng – cũng bằng một cách đặc biệt, trong khăn ẩm,– và những chiếc bánh mì nóng hổi, thơm phức được đưa tới bàn ăn dù ở Barnaul hay Irkutsk.

Và bỗng một hôm xuất hiện sản phẩm mới mà khách hàng tranh nhau mua – đó là bánh mì saika (сайка) với nho khô…

— Ông làm cách nào mà nghĩ ra được nó thế?

— Và rất đơn giản! – ông già trả lời.

Quả thật là cũng rất đơn giản. Thời đó vị “độc tài” điều hành Moscow là viên tướng – thống đốc Zakrevsky, trước mặt ông hết thảy đều run sợ. Mỗi sáng những chiếc bánh mì saika nóng của Philippov được dọn lên bàn uống trà của Zakrevsky.

— Cái quái quỷ gì đây! Gọi ngay gã làm bánh mì Philippov lại đây! – một lần ngài thống đốc quát lên ở bàn trà sáng.

Người hầu không hiểu chuyện gì xảy ra, và lôi Philippov đang hoảng sợ tới gặp thống đốc.

— Cái gì đây? Gián?! – và chìa ra cái bánh mì saika với con gián đã bị nướng chín. – Cái gì đây?! Hả?

— Và thậm chí còn rất đơn giản, thưa ngài! – ông già Philippov xoay xoay chiếc bánh saika trước mặt mình.

— Cái gì? Cái gì? Đơn giản á?!

— Đó là nho khô, thưa ngài!

Và Philippov ăn ngay miếng bánh có con gián.

— Nói dối, đồ đểu! Làm gì có bánh mì saika với nho khô? Cút!

Philippov chạy vào xưởng làm bánh, vớ lấy sàng nho khô và đổ vào chỗ bột để làm bánh saika trong sự hoảng sợ của những người thợ nướng bánh

Một giờ sau Philippov đã mời Zakrevsky ăn bánh saika với nho khô, còn ngày hôm sau thì mặt hàng mới này cứ gọi là đắt như tôm tươi.

— Và rất đơn giản! Mọi sự đều tự đến, chỉ cần biết nắm lấy thôi, — Philippov nói mỗi khi nhắc tới câu chuyện về bánh saika với nho khô.

——————————-
Phần sau của chương sách cũng rất hấp dẫn này là về kẹo, về thợ cắt tóc, nhưng nó dài quá nên Nina xin phép dừng ở đây.
Và để dễ hiểu thì Nina xin phép giới thiệu loại bánh mì saika
Từ điển Dal viết rằng

САЙКА, саечка ж. булка, пшеничный хлебец самого крутого замесу; саечное тесто, крутое, сильно битое, а калачное жидкое, посему хороших саек теперь почти нет, их печь невыгодно

Saika là bánh mì làm từ bột lúa mạch, nhồi bột rất nặng (có lẽ là thế); bột nhồi để nướng saika thì nặng, phải đập mạnh tay, còn bột nhồi để nướng bánh mì thì … lỏng hơn…
Mượn tạm ảnh của một bạn thích nướng bánh để minh họa – Максим Сырников