Tàu ngầm “không nguyên tử” đầu tiên của Nga sau 32 năm

Công ty “Nhà máy Ban-tích” ở Sankt-Peterburg dự kiến bàn giao cho khách hàng – doanh nghiệp nhà nước LB Nga “Rosmorport” tàu phá băng chạy bằng máy phát điện điêzen “Moskva” vào ngày 11 tháng 12 tới đây. Đó là thông báo của bộ phận báo chí doanh nghiệp đóng tàu nàyTrước đây đã có thông báo rằng vào giữa tháng 11 nhà máy đã hoàn thành thử nghiệm vận hành quốc gia tàu phá băng này.

Những thử nghiệm con tàu phá băng chạy bằng máy phát điện điêzen được bắt đầu từ cuối tháng 11 trong vùng Vịnh Phần lan. Trên tàu có gần 150 người: các chuyên gia của “Nhà máy Ban-tích”, thủy thủ đoàn, đại diện các công ty thầu khoán, cũng như thành viên của ủy ban nhà nước, trong đó gồm có các đại diện hàng hải Nga, Ủy ban thanh tra bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và “Rosmorport” (người đặt hàng).

“Moskva” – là con tàu chính của sêri tàu phá băng đa chức năng hạng mới được hạ thủy từ cuối tháng 5/2007. Đây là con tàu phá băng hai boong có chỗ cho trực thăng hạ cánh. Trọng lượng nước rẽ gần 10 ngàn tấn, chiều dài – 116 m, chiều rộng – 26,5 m, tầm nước – 8,5 m, vận tốc trên vùng nước sạch không băng – 17 hải lý. Tàu phá băng này được thiết kế để có thể vượt qua lớp băng dày hơn 1m.

Tàu phá băng được xây dựng theo đơn đặt hàng của “Rosmorport” và dành cho mục đích dẫn dắt các tàu chở dầu cỡ lớn – chiều rộng lên đến 50 m, để neo tầu trong băng và trong vùng nước sạch không băng, vận chuyển hàng hóa, các công việc cứu hộ và trợ giúp tàu khác, cứu hỏa

Đây là con tàu phá băng chạy bằng máy phát điện điêzen đầu tiên được đóng trong ở Nga trong suốt 32 năm. Trước đó Nga toàn đặt các tàu phá băng không chạy bằng năng lượng nguyên tử ở nước ngoài.

Công ty đóng tàu “Nhà máy Ban-tích” là một trong những công ty đóng tàu đa chức năng lớn nhất ở Nga. Công ty xây dựng những con tàu có trọng tải hàng hóa tới 100 ngàn tấn, – hãng tin Interfax cho biết.

Công nghệ cao trợ giúp Penza

Stanislav Nazarov (Vesti)




Một trung tâm tim mạch lớn nhất Nga vừa được xây dựng xong ở Penza. Nơi đây sẽ trang bị các công nghệ hiện đại nhất trong điều trị các bệnh liên quan đến tim. Các thiết bị độc đáo này được trang bị trong khuôn khổ dự án quốc gia “Sức khỏe”.

Trong những ngày này ở bệnh viện nào vùng Penza người ta cũng thấy cảnh xếp hàng dài. Đó không phải là dịch bệnh – chỉ đơn giản là các chuyên gia Bệnh viện tim Liên bang tới đây. “Trước kia, để được chữa trị công nghệ cao như thế này, thì người ta phải đến tận Moscow, hoặc Peterburg. Nhưng bây giờ thì ở Penza cũng làm được điều này, vì thế mà người dân đến đây rất đông”, – bác sĩ Vladimir Markov, bác sĩ trưởng Bệnh viện thành phố số 3 của Penza nói.

Sau khi khám xong thì các bác sĩ phải quyết định, bệnh nhân nào cần phải phẫu thuật ở trung tâm tim mạch liên bang. Một cô bé 14 tuổi cố lắm mới nín khóc trước vị chuyên gia tim mạch. Bác sĩ nói rằng có thể cô bé phải từ bỏ môn thể thao yêu thích của mình – vì có nghi vấn dị tật tim.

Quá trình xây dựng trung tâm là một quá trình quốc tế thật sự: Nga, Đức, Anh, Pháp đều tham gia. Giai đoạn xây dựng đã xong. Hiện tại các kỹ sư đang kiểm tra các thiết bị sẽ kết nối trung tâm vào một mạng lưới thông tin thống nhất. Cả tòa nhà này là một máy tính – từ một phòng có thể theo dõi cả tòa nhà nói chung, cũng như kiểm soát hoạt động của các hệ thống thông gió, điện, điện thoại và các hệ thống khác

Hiện giờ trong hành lang của bệnh viện mới chỉ có các nhân viên và công nhân đi lại. Vẫn chưa có chiếc áo khoác nào được treo lên những chiếc móc niken của phòng giữ áo, vẫn chưa có bệnh nhân nào ngồi lên những chiếc đi văng có “màu con tim”. Hiện tại các bác sĩ đang học cách làm việc trên các thiết bị mới, và như các học sinh trong các lớp mới, họ làm quen với các phòng còn đang trống rỗng.

Nghi vấn bệnh của cô bé 14 tuổi nói trên không được xác nhận – không có tiếng ồn trong nhịp tim. Các bác sĩ không ghi tên cô vào danh sách các bệnh nhân của trung tâm, nhưng vài trăm người khác đến khám bệnh ở đây trong mấy ngày này sẽ phải phẫu thuật. Đối với cư dân các thành phố nhỏ và nông thôn, thì những lần khám như thế này đôi khi là cơ hội duy nhất để sống. Các bác sĩ của trung tâm hứa rằng, các cuộc khám và phẫu thuật miễn phí sẽ được tiến hành thường xuyên.

Sẽ có 15 trung tâm liên bang của Nga đấu tranh với căn bệnh phổ biến nhất xã hội này. Các trung tâm này sẽ được thành lập tại các vùng khác nhau của nước Nga. Chỉ vài tháng nữa thì bệnh viện tim đầu tiên được xây dựng sẽ tiếp nhận các bệnh nhân của mình. Các phẫu thuật tốn kém sẽ được tiến hành miễn phí – theo hạn ngạch đặc biệt. Trong các tòa nhà như thế này người ta sẽ có thể chữa trị hàng ngàn trái tim mỗi năm.

Chuyện một lần phóng vệ tinh đã thay đổi thế giới

50 năm ngày phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên 4/10/1957 – 4/10/2007

Von Simone Schlindwein (Spiegel)
Lưu Hải Hà (NuocNga.net) dịch

Vệ tinh chỉ biết kêu bíp bíp – không biết làm gì hơn. Dù vậy, vệ tinh Xô viết đầu tiên đã khiến cả Washington bị sốc. Ở Mỹ không ai nghĩ tới việc vệ tinh này được phóng, mà nói chung thì ở Matxcơva cũng thế thôi.

Chiều ngày 4/10/1957, khi vệ tinh này đang bay vòng thứ hai vòng quanh Trái đất, thì tại buổi hội kiến tại Đại sứ quán Liên Xô tại Washington có mặt vài chục nhà khoa học chuyên về các khoa học Trái đất đến từ nhiều nước khác nhau. Và chưa ai trong số đó biết rằng, vệ tinh mà họ dự định phóng với mục đích nghiên cứu khoa học hiện đã đang bay quanh Trái đất.

Trong buổi chiều thứ sáu hôm ấy các nhà khoa học “đánh dấu” bế mạc một hội thảo được tổ chức nhân dịp Năm Địa vật lý Quốc tế. Từ tháng 7/1957 cho tới tháng 12/1958, trong giai đoạn mặt trời hoạt động tích cực nhất, các nhà khoa học dự định nghiên cứu tác động của hoạt động mặt trời tới từ trường Trái đất từ vũ trụ. Tất nhiên là phải có sự giúp đỡ của vệ tinh.

Trong giai đoạn căng thẳng đó của thời kỳ chiến tranh lạnh, thì một dự án hợp tác khoa học là một sự kiện hết sức đặc biệt. Mà nói chung thì buổi hội kiến long trọng tại Đại sứ quán Liên Xô thì cũng thế thôi – khi đó các nhà khoa học nguyên tử từ hai phía bức màn sắt cùng làm việc để chế tạo loại bom mới và những tên lửa đẩy liên lục địa.

Trong năm 1955 chính quyền Mỹ tuyên bố rằng Mỹ muốn phóng vệ tinh nhân dịp Năm Địa vật lý Quốc tế. Bốn ngày sau đó thì Liên Xô cũng tuyên bố điều này, mặc dù cũng chẳng nói gì cụ thể về những kế hoạch của mình. Tại cuộc hội kiến ở Đại sứ quán, các nhà khoa học hy vọng rằng cuối cùng thì họ cũng có thể biết được điều gì đó về dự án vũ trụ của Liên Xô. Nhưng họ không thể ngờ rằng họ sẽ được biết nhiều điều đến thế.

Cơ hội cho Korolev: hai tên lửa thừa

Thông báo về việc vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người đã được Liên Xô đưa lên vũ trụ đã làm cho người Mỹ kinh ngạc. Các nhà khoa học Liên Xô thì lúng túng nhận những lời chúc mừng. Đại diện các nhà khoa học Liên Xô – Anatoly Blagonravov buộc phải thừa nhận rằng, quả cầu nhôm nặng gần 84 kg, bán kính 58 cm không đem theo bất kỳ thiết bị khoa học nào, ngoại trừ một cái nhiệt kế và thiết bị phát sóng ngắn.

Vệ tinh chỉ kêu bíp bíp – không biết làm gì hơn. Tuy nhiên tác động chính trị của “chú bé” và những tín hiệu của vệ tinh mà bất kỳ người chơi radio nghiệp dư nào cũng có thể bắt được là hết sức to lớn.

Thậm chí Liên Xô cũng không nghĩ tới một hiệu ứng tương tự, bởi vì họ chỉ nghĩ rằng vệ tinh này là một lối ra nhanh chóng và đơn giản trong tình huống khó khăn lúc bấy giờ. Khi phóng thử tên lửa liên lục địa R-7 thì mô hình đầu đạn hạt nhân thay vì đi tiêu diệt mục tiêu lại bị cháy trong khí quyển – thế là phải làm lại toàn bộ. Khi đó họ chỉ còn có hai tên lửa nữa mà còn phải thử nghiệm, trong lúc các kỹ sư hoàn tất đầu đạn. Và họ đã đưa ra một quyết định hoàn toàn không có trong kế hoạch lúc trước: thay vì phóng tên lửa chỉ để thử nghiệm, thì những tên lửa này còn có thể sử dụng để phóng vệ tinh.

Tuy nhiên thiên thể nhân tạo có trong các kế hoạch này và sẽ được sử dụng để đo từ trường Trái đất, khi đó vẫn còn chưa tồn tại. “Thì Viện Hàn lâm khoa học không kịp chế tạo thiết bị đúng thời hạn, điều thường xuyên xảy ra ấy mà” – ông Boris Chertok, công trình sư hệ thống điều khiển R-7 lúc đó, nay đã 96 tuổi, hồi tưởng lại.

Khi đó Tổng công trình sư Sergei Korolev bèn đề nghị nhanh chóng chế tạo một vệ tinh đơn giản không mang theo bất kỳ thiết bị khoa học nào. Trong trường hợp ngược lại, Chertok nói, quá trình chờ đợi có thể bị kéo dài, và hoàn toàn có thể là khi đó người Mỹ sẽ phóng vệ tinh của mình trước.

Yuri Gagarin và Sergei Korolev.

Chuyện Mỹ đã có thể thắng cuộc chạy đua vào vũ trụ, và tại sao người Nga lại vẫn là những người đầu tiên

Một quyết định y như thế có thể đã được thông qua ở Mỹ – bởi mùa hè năm 1957 trong các cuộc thử nghiệm tên lửa thì các kỹ sư Mỹ đã vượt các đồng nghiệp Nga của mình khá xa. Họ (các kỹ sư Mỹ) chỉ còn việc trang bị thêm tầng trên
cùng cho tên lửa, và với sự giúp đỡ của tầng này, như Korolev đề nghị, phóng vệ tinh vào vũ trụ.

Tuy nhiên, khác với Liên Xô, ở Mỹ có hai dự án tên lửa riêng biệt: một dự án quân sự hoàn toàn tuyệt mật, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của người Đức Wernher von Braun; và dự án khoa học Vanguard. Khác với tên lửa quân sự Atlas, các kỹ sư Mỹ gặp nhiều khó khăn với tên lửa đẩy Vanguard, mà tên lửa này là tên lửa dự định phóng vệ tinh đầu tiên vào vũ trụ. Đến tận tháng ba năm 1958 thì tất cả các lần phóng thử tên lửa này đều kết thúc thất bại.

Tại bãi thử bí mật ở Kazakhstan mà khi đó vẫn còn chưa được trang bị đầy đủ, mùa hè năm 1957 các kỹ sư tên lửa của Liên Xô bấy giờ cũng gặp những thất bại tương tự. Tên lửa R-7, vốn được thiết kế cho các mục đích quân sự, ban đầu cũng không muốn bay lên. Bảy trong số tám lần phóng tên lửa này trước khi phóng vệ tinh đều kết thúc thất bại. Chỉ có một lần duy nhất, vào tháng tám, tên lửa R-7 đã bay qua rừng tai ga Sibiri và bắn trúng mục tiêu của mình trên bán đảo Kamchatka ở Thái Bình Dương.


Chó Laika bay vào vũ trụ

Tuy nhiên các kỹ sư không thể nào đảm bảo được rằng lần phóng sau tên lửa lại cũng sẽ bay lên. Vì vậy mà dự án phóng vệ tinh vẫn là một dự án tuyệt mật cho tới khi mà vệ tinh vẫn còn chưa được đưa lên quỹ đạo gần Trái đất. Nhưng cả Khrushchev lẫn Korolev đều không thể ngờ rằng việc phóng vệ tinh thành công sẽ gây nên cơn sốc thật sự ở Mỹ. Tờ New York Times đăng thông báo về việc phóng vệ tinh ngay trên trang đầu.

Khi Khrushchev nhận được báo cáo đầy đủ về phản ứng của Mỹ, ông gọi Korolev tới gặp – Chertok kể lại. Thực sự, bây giờ chúng ta không cần bom khinh khí nữa. Nhờ phóng cái vệ tinh vô hại này mà chúng ta đã nhận được còn nhiều hơn so với việc thử bom khinh khí, Tổng Bí thư Nikita Khrushchev nói với Korolev.


Sản phẩm của một người nhiệt tình ngoan cường

Người ta dự định phóng vệ tinh thứ hai vào khoảng thời gian gần ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Mười. Tuy nhiên phóng một vệ tinh trống không như lần trước thì rõ ràng không có ý nghĩa gì, Chertok nói. Chính vì vậy mà xuất hiện ý tưởng đưa một chú chó vào vũ trụ. Người công trình sư này cười và kể rằng hồi đó họ còn không có cả bản vẽ kỹ thuật. Tổng công trình sư Korolev chỉ đạo trực tiếp cho các kỹ sư trong các phân xưởng – cái gì gắn vào đâu.

Ngày 3/11/1957 chú chó Laika bay vào vũ trụ – và Liên Xô lại tận hưởng hương vị thành công ngọt ngào. Chỉ mãi sau này công chúng mới được biết rằng Laika không sống trên quỹ đọa lâu hơn một tuần.

Cho tới tận ngày nay các kỹ sư tên lửa Nga và các nhà sử học các chuyến bay vũ trụ đều thừa nhận rằng Liên Xô đã vượt Mỹ và bay vào vũ trụ đầu tiên trước hết là nhờ có người nhiệt tình ngoan cường Korolev. “Cái chất của Korolev năm 1966 đã trở thành một cú đánh quá nặng đối với chúng tôi” – Chertok nói. Người phó của ông, Vasily Mishin lên thay chỗ của Korolev là một kỹ sư rất tài năng. “Nhưng anh ấy không có tài lãnh đạo của Korolev. Cũng như không có được ảnh hưởng tới các nhà lãnh đạo, tương tự như ảnh hưởng mà Korolev có”.

Ứng dụng các nghiên cứu vũ trụ vào đời thường

Hoàng Lan (NuocNga.net) dịch
Theo Moskovsky Komsomolets


Những công nghệ ứng dụng ngày nay vào lĩnh vực vũ trụ có thể và đang đem lại lợi ích trong cuộc sống hàng ngày. Đó là tuyên bố của ông Anatoly Perminov, người đứng đầu Roscosmos.

“Có nghiên cứu có thể giúp ích cho những người hái nấm. Thiết bị này có giá chỉ khoảng tám ngàn rub, giúp xác định vị trí trong rừng. Cách đây không lâu chúng tôi đã giới thiệu nó tại triển lãm hàng không “MAKC-2007”, – ông Perminov nói trong khi trả lời phỏng vấn của tờ báo “Moskovsky Komsomolets”.

Theo lời ông, những thiết bị tương tự với pin mặt trời đang lắp đặt trên các thiết bị vũ trụ, hiện nay đang được sử dụng trong cuộc sống.

“Các bạn có thể lắp đặt pin mặt trời như thế để sưởi nóng nước tại nhà nghỉ của mình chẳng hạn. Chúng tôi cũng có thể giới thiệu các trạm phát điện từ gió, thiết bị sưởi ấm bằng khí đốt, thiết bị lọc nước thải thiên nhiên, và cả máy ép trái cây cho các khu nhà nghỉ” – ông Perminov nói.

Giá thành của mỗi mét vuông pin mặt trời như thế vào khoảng 600 USD – ông Perminov nói thêm.

Ông Sergei Ivanov, Phó thủ tướng thứ nhất Liên Bang Nga tuyên bố tại cuộc họp Chủ tịch đoàn Ủy ban Quốc gia vào tháng ba năm nay rằng cần thiết phải đảm bảo được khả năng tiếp cận lớn hơn của người tiêu dùng Nga tới “những kết quả của hoạt động vũ trụ, mà nói riêng là các công nghệ định vị.

Chấn động nơi nước sâu

Đmitri Kaistro (Vesti)
Hoàng Lan (NuocNga.net) dịch

Российские ученые вместе с коллегами из других стран начинают крупнейшую за всю историю экспедицию на Северный полюс

Tàu phá băng “Russia”

Các nhà khoa học Nga cùng với các đồng nghiệp nước ngoài đang bắt đầu một cuộc thám hiểm lớn nhất tới Cực Bắc trong toàn bộ lịch sử khảo sát nghiên cứu vùng này.

Hai chiếc tàu đã rời cảng Murmansk, và trọng trách trên vai thủy thủ đoàn là nhiệm vụ nghiên cứu đan xen chặt chẽ với chính trị. Các nhà khoa học phải giải quyết rất nhiều điều lần đầu tiên: đó là “xuống đáy” Bắc Băng Dương trong những tiềm thủy khí qua những lỗ băng qua lớp băng dày, và độ sâu chưa từng có nơi đây – gần 5000 m. Nhưng mục đích chính của họ không phải là lập kỷ lục, mà để giải quyết cuộc tranh cãi lãnh thổ. Họ cần phải xác định, vùng đất thềm lục địa bắc cực – một vùng đất có tầm quan trọng chiến lược – thực sự thuộc về chủ quyền của nước nào.

Những giờ phút cuối cùng tại bến tàu, trong fjord Murmansk lộng gió. Các nghi lễ xuất bến, giống như đối với hàng ngàn cuộc thám hiểm Cực Bắc khác, nhưng cuộc thám hiểm hôm nay khó mà so sánh được với cuộc thám hiểm nào trước đó. Các nhà khoa học thích một sự so sánh khác hơn – so sánh với vũ trụ sâu thẳm, và thậm chí họ còn cho rằng cuộc thám hiểm này nguy hiểm hơn cả công việc trên quỹ đạo.

Vladimir Gruzdev là một trong những người sẽ thực hiện cuộc thăm dò lịch sử độ sâu đáy Bắc Băng Dương trong tiềm thủy khí Mir – 1. Gruzdev sẽ xuống tới độ sâu 4,5 km để đặt lá cờ Nga ba sọc được hàn trong ống titan xuống đó. “Đó là một công việc rất không đơn giản, vì cần phải lên đúng vào vùng nước mà họ đã hạ xuống, – Vladimir giải thích. – Xung quanh toàn là băng, độ dày lớp băng lên đến 2 – 3 m, mà tiềm thủy khí phải lên đúng chỗ nó đã được hạ xuống”.

Và tiềm thủy khí phải được hạ xuống vào đúng điểm Cực Bắc địa lý của Trái Đất. Để thực hiện mục đích này hai con tàu nghiên cứu khoa học – “Viện sĩ Fedorov” và “Mstislav Keldysh” khởi hành qua những gò băng tới chiếc mũ của hành tinh. Trên “Viện sĩ Fedorov” đã có các tiềm thủy khí và trên 100 nhà khoa học Nga, còn “Mstislav Keldysh” sẽ khởi hành sau một thời gian. Tàu phá băng nguyên tử “Russia” sẽ đưa hai con tàu này qua băng. Dự kiến sau vài ngày hai tàu này sẽ đi qua lớp nước sạch (không có băng) tới đồng băng, và sau khoảng 4 ngày nữa thì chúng sẽ đạt đến điểm Cực Bắc của Trái Đất. Tại đây hai con tàu này sẽ chuẩn bị hạ tiềm thủy khí qua lỗ băng. “Tôi hy vọng, rằng lượng thông tin mà chúng tôi sẽ nhận được về hiện trạng hệ thống khí hậu của đại dương, hiện trạng đại dương, khí quyển và lớp phủ băng sẽ được làm giàu bằng những khái niệm mới về những gì đang diễn ra trong hệ thống khí hậu hành tinh nói chung” – trưởng đoàn thám hiểm vùng vĩ độ cao bắc cực, ông Vladimir Sokolov cho biết.

Ông Artur Chilingarov, người lãnh đạo các nhà thám hiểm địa cực Nga sẽ tự mình tham gia vào chuyến khảo sát đáy Bắc Băng Dương lần đầu tiên này. Trước chuyến thám hiểm ông và tất cả các thành viên của các tiềm thủy khí đã trải qua một khóa đào tạo đặc biệt, bởi vì tại độ sâu này áp suất lên tiềm thủy khí sẽ đạt tới 450 atm. Sự phức tạp của việc này còn ở chỗ phải trở về đúng chỗ đã “khởi hành”, vào đúng lỗ băng đó trên mặt biển trong những tảng băng luôn luôn thở, như các nhà nghiên cứu địa cực vẫn nói – những tảng băng luôn thay đổi hình dạng của mình. Nhưng dù sao thì tất cả họ đều tràn đầy quyết tâm thực hiện điều này.

Ở đây khoa học còn gắn bó chặt chẽ với những quyền lợi chiến lược của Nga ở vùng địa cực. Dưới đáy Bắc Băng Dương các nhà khoa học cần phải xác định biên phía bắc của thềm lục địa nước Nga. “Vùng bắc cực này là vùng đất Nga. Chúng ta gắn bó với vùng này không chỉ một đời, một thế hệ. Tại sao những người đã chinh phục Vùng bắc cực lại phải đem nó cho người k
hác? – Artur Chilingarov phân tích. Tất nhiên chuyến thám hiểm này có ý nghĩa chính trị và địa chính trị. Người Nga sẽ là những người đầu tiên đặt xuống đáy Bắc Băng Dương, đúng điểm Cực Bắc quốc kỳ Nga.

Sau khi chinh phục đ sâu Cực Bắc, các nhà khoa học sẽ còn khánh thành trạm quan trắc trôi nổi số 35, và sau đó là đường về nhà, về Hậu phương Lớn, Đất Lớn. Những cuộc thám hiểm tương tự như thế chưa từng có trong lịch sử chinh phục Vùng bắc cực. Một cuộc thám hiểm vĩ đ cao và nước sâu cùng lúcnó phải trở thành một chấn động khoa học thật sự, còn những cơ sở của cuộc thám hiểm này sẽ nằm trong chương trình quốc gia Nga về sự có mặt của Nga trong khu vực chiến lược này của hành tinh.

Những hải đăng mặt trời trong đêm trường bắc cực


Đmitri Vưsotsky (Vesti)
Lưu Hải Hà (NuocNga.net) dịch



Tr
ên bờ biển bán đảo Kola những công việc quy mô nhằm trang bị cho những ngọn hải đăng đây bằng các nguồn năng lượng sinh thái sạch mới đã sắp hoàn tất. Các công việc này đã tiến hành suốt gần bảy năm.

Các hệ thống đồng vị phóng xạ đã hoạt động gần hết “vòng đời” của mình, vốn hết sức nguy hiểm cho con người được thay thế bằng pin mặt trời. Nguồn năng lượng mới này sẽ giúp cho những ngọn hải đăng tiếp tục chỉ đường cho những con tàu ngay cả trong đêm trường bắc cực.

Ilya và Mikhail phải làm việc cả ngày dưới sự quan sát của những con chim biển. Trên hòn đảo vô danh này trong vịnh Kola những người thợ điện cần phải triển khai lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên hải đăng. Ilya than thở – thiết bị thì đắt và quý đến thế, mà cái bọn chim kia cứ om sòm, không cho họ bình tĩnh làm việc. “Khi chúng đẻ trứng thì còn không thể nào đi lại được, chúng sẵn sàng tấn công chúng tôi”, – anh Ilya Kotkin, thợ xây lắp điện kể.

Trong suốt bảy năm tiến hành công việc tại vùng bờ biển bán đảo Kola, những người thợ điện đã lắp đặt trên 120 bộ pin mặt trời cho các hải đăng. Những bộ pin này thay thế cho các thiết bị điều chỉnh nhiệt đồng vị phóng xạ trước đây cung cấp năng lượng cho tất cả các hải đăng. “Do các thiết bị này đã gần tiêu thụ hết nguồn tài nguyên của mình trong suốt 40 năm vận hành, nên các chuyên gia đã đi đến kết luận rằng sự thay thế tối ưu cho chúng sẽ là các thiết bị năng lượng mặt trời, chưa kể là đã có ví dụ về việc sử dụng các hệ thống quang điện như thế ở nước Na uy láng giềng” – kỹ sư trưởng Andrei Kazachinsky nói.

“Tai nạn phóng xạ ở vùng Murmansk! Kẻ trộm định xoáy thiết bị điều chỉnh nhiệt, nhưng bị nhiễm phóng xạ đến chết!” – những hàng tít như vậy xuất hiện trên những tờ báo Murmansk cuối những năm 90 với tần số đáng lo sợ. Những kẻ săn tìm kim loại màu đã tháo gỡ các thiết bị điều chỉnh nhiệt này từ các hải đăng, và nhận được liều lượng phóng xạ chết người.

Những công tai nơ nguy hiểm chứa uran và strontium được đưa ra từ các hải đăng với các biện pháp an ninh tăng cường. Đầu tiên người ta dùng trực thăng đưa chúng tới những nơi đặc biệt, rồi sau đó chở chúng tới nhà máy “Maiak” ở Cheliabinsk để tận dụng chúng. Nếu như các công việc này bắt đầu chậm hơn một chút thì hẳn là những nguồn phóng xạ này có thể rơi vào “những bàn tay xấu”.

“Ở đó có nguồn phóng xạ – strontium-90. Nếu như tách nó ra, thì lượng strontium này đủ để phải sơ tán một thành phố cỡ bằng thành phố Murmansk” – ông V
ladimir Kozlovsky, đại diện chính quyền vùng Murmansk nói.

Ngày nay Cảng Murmansk, Vịnh Kola và tất cả các trục đường biển của Biển Baren được chiếu sáng bởi những hải đăng hoạt động với pin mặt trời hoàn toàn không nguy hại. Các nhà chế tạo đảm bảo thời gian hoạt động là 20 năm, bởi vì những modul y như thế này đang hoạt động trên các thiết bị vũ trụ của Nga.

Khi mà dự án này mới bắt đầu thì nhiều người rất ngạc nhiên: làm sao mà trong Vòng cực bắc, nơi mà mùa đông mặt trời không xuất hiện từ dưới đường chân trời lại có thể sử dụng pin mặt trời được? Tuy nhiên các thử nghiệm đã cho thấy rằng nguồn năng lượng tích tụ lại trong các ắc quy trong suốt mùa hè là đ đ cho các hải đăng có thể chỉ đường cho những con tàu cả trong đêm bắc cực.

Tấm gương dành cho Vũ trụ

Anđrây Trischiakov (Vesti)
Tường Vân
(NuocNga.net) dịch





Một chiếc gương lớn đang được đem từ Karachaevo – Cherkessia tới Matxcơva. Nhờ chiếc gương này người ta có thể nhìn vào Vũ trụ. Vật phản xạ của chiếc kính thiên văn lớn nhất Âu- Á này cho phép các nhà thiên văn học nghiên cứu các đối tượng cách xa Trái Đất hàng tỷ năm ánh sáng. Để cho những hình ảnh từ vũ trụ rõ ràng hơn, người ta sẽ mài tấm gương này hai năm ở nhà máy Lytkarino.

Một cộng tác viên của Đài vật lý thiên văn đặc biệt kể cho du khách về chiếc kính thiên văn quang học phương vị độc nhất vô nhị này của Nga. Du khách không ngờ rằng sau những câu chuyện về sự ra đời của đài thiên văn và những phát minh sinh ra ở đây, họ còn được tận mắt mình chứng kiến một công việc cũng độc nhất vô nhị – vận chuyển chiếc gương. Khoảng 15 sensor cảm ứng đặc biệt nhạy cảm, giá đỡ mềm và các giá đỡ đặc biệt giữ vị trí tấm gương, trên sàn 10 trục là niềm tự hào của ngành vật lý thiên văn Nga



Trong một công tai nơ được chế tạo đặc biệt, chiếc gương chính của kính thiên văn lớn này với khối lượng trên 40 tấn đã trải qua hành trình dài hai ngàn kilomet. Suốt chặng đường này, như các chuyên gia nói, chiếc gương không phải chịu bất kỳ áp lực nào, để không bị lệch cả theo phương thẳng đứng cũng như phương ngang thậm chí chỉ đến phần mười milimet.

Hiện nay ở Nga có hai vật thủy tinh khổng lồ như thế. Cả hai thiết bị thiên văn này đều ở Karachaevo – Cherkessia. Một trong số chúng đang cần phải sửa chữa hoặc mài lại bề mặt. Những vết xây xát đã xuất hiện từ lúc sản xuất chiếc gương thủy tinh này vào hồi giữa những năm 70 thế kỷ trước. Thời gian trôi qua, và những vết xây xát ấy bắt đầu làm sai lệch các tia vũ trụ. “Chúng tôi không ngủ được nhiều đêm, nghĩ về việc phải kéo đầu nào để không làm nứt gương” – đó là lời ông Yuri Mamechev, người phụ trách chiếc kính thiên văn phương vị lớn của Đài vật lý thiên văn đặc biệt thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Ông cũng nói rằng “thực tế, các thiết bị chính xác cao đòi hỏi phải nghĩ ngợi kỹ lưỡng từng bước một, và phải chuẩn bị hết sức kỹ càng. Dự án này được chuẩn bị từ năm 84”.

Các nhà khoa học nói rằng thời tiết hôm nay đã không gây khó khăn cho họ. Ngày hôm trước, một front không khí lớn đã suýt làm hỏng chương trình này. Bởi vì chuyển động của công tai nơ (đường kính của nó là 8 m) phải thống nhất với nhiều cơ quan chức năng. “Cuối cùng có quyết định rằng phải đi vòng qua một chiếc cầu. Vì thế, trong vùng này, trên lãnh thổ Cherkessia phải làm một con đường vòng dài 800 m để đảm bảo an toàn vận chuyển” – ông Mahomet Abdulkadyrov, kỹ sư trưởng Nhà máy thủy tinh quang học Lytkarino kể.



10 kilomet một giờ với những khoảng dừng giữa chừng. Các lái xe theo dõi tình trạng khuôn phanh và độ cong của mỗi vòng cua. Còn chiếc xe ô tô đi đầu đoàn xe thì ra hiệu lệnh cho những chiếc xe ngược chiều quay lại. Suốt 17 km đầu tiên họ đi theo đường núi. Sau đó họ còn phải đi tới Rostov trên sông Đông, nơi họ sẽ đưa công tai nơ xuống tàu thủy. Chiếc tàu này sẽ đưa kính thiên văn tới vùng Matxcơva theo kênh đào Volga – sông Đông.