Ngắn gọn về các thể loại opera

Vì đã hứa với em Chibura nên phải ngồi viết lăng nhăng, đúng như tật xấu của mình).

Nói chung opera là một hình thức nghê thuật rất đa dạng và phong phú, các nhà soạn nhạc rất rất tài năng thì chả chịu đóng khung vào khuôn khổ nào, nên phân loại là một việc cực khó. Mình thì lại chả biết gì nhiều, nên chỉ chém gió là chính thôi.

Sau đây là hình minh họa hoàn toàn không liên quan đến bài viết, độc giả có thể xem trước khi quyết định có đọc tiếp hay không.

Opera

Opéra bouffe (không nên nhầm với Opera buffa). Vì các opera thể loại này được dàn dựng công diễn lần đầu tiên chủ yếu ở Théâtre des Bouffes-Parisiens  nên nó có tên thế đấy. Tất nhiên là để xứng với tên gọi, thì trong thể loại này có rất nhiều yếu tố của hài kịch, nhại, châm biếm. Nói chung dấu hiệu rõ ràng nhất của thể loại này – tác giả chính là Offenbach, nhưng opera thì không có tên Hoffmann. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của thể loại: La belle Hélène, Barbe-bleue (Bluebeard), La vie parisienne, La Périchole, La Grande-Duchesse de Gérolstein.

Opera buffa (người Pháp còn gọi là opere buffe). Thường có thành phần nhân vật không lớn lắm – 2-3 nhân vật chính, không khí hài hước vui vẻ, hành động nhanh, giai điệu sống động. Tác phẩm: La serva padrona (Giovanni Pergolesi),  Don Pasquale (Donizetti)

Đến thời Rossini thì thường có 4 nhân vật chính: một prima donna soubrette nhí nhảnh (soprano hoặc mezzo);  một tenor-người tình nhẹ nhàng, đáng yêu; một basso hoặc baritone trữ tình mai mỉa; và một basso buffo nhả chữ tốt, lại có thể hát  âm vực baritone cho những duet hài.

Tác phẩm tiêu biểu sau đó thì đương nhiên là  Il barbiere di Siviglia (Rossini), Le nozze di Figaro (Mozart) và  L’elisir d’amore (Donizetti), Orphée aux enfers (Offenbach)

Opera – comique. Đây là tiếng Pháp, nhưng các bạn có thể đoán ra dễ dàng – nghĩa của nó là opera hài hước. Cũng dễ hiểu là thể loại này sinh ra ở Pháp, và thường có các đối thoại nói xen kẽ với các aria, duet; nội dung thì có gắn với đời sống xã hội thực tế hơn, chủ đề cũng đa dạng – từ chủ nghĩa hiện thực đến cổ tích thần tiên. Các tác phẩm nổi tiếng có thể kể đến Fra Diavolo (Daniel Auber), Richard Coeur-de-lion (André Grétry). Còn tác phẩm nổi tiếng nhất của thể loại này lại có kết thúc bi thảm – đó là vở Carmen (Bizet), Lakmé (Delibes)

Opera thần tiên. À, đây là tên thể loại nghĩa đen, không phải là chất lượng opera nghĩa bóng. Nội dung dựa vào các truyện cổ tích thần tiên. Ví dụ thì Nina cũng chưa nghe bao giờ, mà chủ yếu là opera Pháp, kiểu như Le cheval de bronze (Daniel Auber), Le voyage dans la lune (Jacques Offenbach).

Opera seria (đừng nhầm với serial, nghĩa là opera nghiêm túc). Đại loại nội dung chủ yếu là lịch sử – thần thoại và cổ tích với sự phân chia vai trò rõ ràng của lời thoại với âm nhạc. Tất cả những gì liên quan đến âm mưu phức tạp và rối tinh rối mù, tới sự phát triển nội dung chính đều được thể hiện qua các phần hát nói (recitacivo). Các cảm xúc điển hình trong các tình huống điển hình thường được thể hiện trong những aria cho phép ca sĩ thể hiện trình độ kỹ thuật thượng thừa. Thậm chí gam chủ đạo của aria cũng được “chuẩn hóa”: aria giọng rê thứ là thể hiện sự thịnh nộ; giọng rê trưởng là sự hoành tráng, can đảm; son thứ là nông thôn điền viên; mi giáng là sự nồng nhiệt.  Thể loại opera này gắn liền với thời kỳ thống lĩnh sân khấu vô đối của các ca sĩ -castrato với những kỹ thuật thanh nhạc đỉnh cao (nổi tiếng nhất thì chắc là Farinelli, Senesino).

Các tác phẩm nổi bật nhất: Didone abbandonata (Metastasio), La clemenza di Tito (Mozart), Achille in Sciro (Sarro), Alcina (Handel).

Tuy nhiên, khi Gluck bắt đầu cải cách opera thì thể loại này dần dần được ưa chuộng ít hơn, nói nôm na là hết mốt.

Opera semiseria (opera nửa nghiêm túc). Chứa đựng cả các yếu tố hài kịch nhưng cũng có cả những “cuồng nhiệt”, và thường có bối cảnh nông thôn yên bình.  Ví dụ là Linda di Chamounix (Donizetti), La sonnambula (Vincenzo Bellini).

Opéra-ballet – thì đương nhiên là gồm cả opera lẫn ballet, và đương nhiên là opera nhiều hơn. Thể loại này khá phổ biến thời kỳ baroque ở Pháp. Ví dụ là opera của Rameau: Les Indes galantes, Les fêtes d’Hébé

Grand opera – thể loại opera phổ biến ở Pháp hồi thế kỷ 19, thường gồm 4-5 màn, số lượng nhân vật lớn, dàn nhạc hoành tráng, dàn dựng quy mô, hiệu ứng cũng bắt mắt, có thể kèm theo  ballet, nội dung thường là xoay quanh những sự kiện lịch sử bi thảm, và nói chung toàn là âm nhạc, ít có những đoạn thoại. Ví dụ: Moïse et Pharaon, Guillaume Tell (Rossini), Robert le diable (Meyerbeer), La Juive (Halévy), La favorite (Donizetti), Le prophète (Meyerbeer), L’Africaine (Meyerbeer), Don Carlos (Verdi), Les Troyens (Berlioz) – quá nhiều vở nổi tiếng rồi! Còn ở Italy thì có thể nhắc tới Aida (Verdi), La Gioconda (Ponchielli).

Opera giải cứu và kinh dị: nói chung có những đặc điểm của hài kịch tình cảm và  kịch mêlô (nhưng không phải grand opera nhé). Thường thì gia tăng kịch tính ở phần cuối, gia tăng nguy hiểm cho các nhân vật chính diện, nhưng bao giờ thì kết thúc cũng là hạnh phúc. Ví dụ:  Lodoïska (Luigi Cherubini), La caverne (Jean-François Le Sueur), và đặc biệt là Fidelio của Beethoven.

Opera lãng mạn – cái này mỗi quốc gia hiểu theo một kiểu. Ở Đức thường chủ đề rất Đức, thuộc phạm trù thiên nhiên, dân gian, vân vân. Đại diện là các vở Der Freischütz (Weber), Tannhäuser, Lohengrin (Wagner). Ở Pháp và Italy thì nghiêng về chiều sâu tâm lý, quan tâm đến cái tôi cá nhân và thế giới tình cảm của con người bình thường (ngược với các chủ đề lịch sử anh hùng huyền thoại với những hình tượng cao quý của grand opera). Ví dụ: Les vêpres siciliennes (Verdi), Roméo et Juliette, Faust (Gounod), Werther, Manon (Massenet), Lakmé (Delibes).

Verismo – thể loại này phát triển vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, có nhiều điểm chung với chủ nghĩa tự nhiên trong văn học Pháp: mô tả cuộc sống hàng ngày, những trăn trở tâm lý của nhân vật, quan tâm đến những mảng tối trong cuộc sống dân nghèo thành thị và nông thôn. Nôm na là opera Ý sau Verdi. Đại diện Cavalleria rusticana (Mascagni), Pagliacci (Leoncavallo), Tosca (Puccini), Andrea Chenier (Giordano) và vân vân.

Singspiel – cũng kiểu kiểu như opera thần tiên của Pháp, nhưng đây là opera của Đức, nên chủ đề thường là cổ tích Đức. Đại diện nổi bật thì đương nhiên là Mozart với Zaide, Die Entführung aus dem Serail, Die Zauberflöte.

Bel canto (nghĩa đen = hát đẹp). Từ này chỉ phong cách hát nhẹ nhàng, duyên dáng và đẹp đầy kỹ thuật. Phong cách hát này yêu cầu ca sĩ phải có trình độ kỹ thuật siêu đẳng và tất nhiên là giọng đẹp.

Thuật ngữ này cũng thường chỉ opera Italy thời kỳ của bộ ba Rossin-Bellini-Donizetti. Ví dụ thì chắc chả cần kể – từ khóa là tác giả!

Đến đây hình như cũng cưỡi ngựa xem hoa hòm hòm đủ các thể loại rồi. Còn nếu nhà soạn nhạc, vở nào nổi bật  mà không thể nhét vào các thể loại đã nêu trên thì mặc định cho ràng – đó là ngoại lệ tài năng nhé!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s