Giới thiệu phim hoạt hình “Pif-paf, ôi-ôi-ôi!”

Vì là mình đã lỡ làm phụ đề cho phim này, nên đương nhiên là mình ưu ái nó rồi 🙂 Và vì tiếc công làm phụ đề, nên cũng cố bôi ra một bài giới thiệu, nhằm câu khách cho phim.

Như mình đã dịch trong phụ đề, đây là một phim hoạt hình, dưới hình thức các tiểu phẩm nhại trên sân khấu. Nội dung thì rất đơn giản. Cómột bài thơ thiếu nhi cực kỳ đơn giản của Nga:

Một hai ba bốn năm
Thỏ ra ngoài đi dạo
Bỗng thợ săn chạy tới
Bắn thẳng vào chú thỏ
Pif-paf! Ôi-ôi-ôi!
Chú thỏ của tôi chết rồi!
Người ta đem thỏ về nhà
Hóa ra thỏ vẫn còn sống …

Qua phụ đề các bạn cũng thấy, các nhà làm phim tưởng tượng, nếu bài thơ đơn giản trên được sân khấu hóa và dàn dựng trong những loại hình sân khấu khác nhau thì sẽ nhận được gì. Đương nhiên là “nội dung” thế này thì hơi … nhảm nhí, nhưng … tưởng tượng mà. Với lại nội dung của khối cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” hiện nay còn nhảm nhí hơn nhiều. Và các tác giả tưởng tượng – nội dung trên được đưa lên sân khấu kịch nói, operetta, kịch thiếu nhi, sân khấu thử nghiệm và opera sẽ như thế nào. Đương nhiên, đây là những “tác phẩm” nhại, cười giễu những suy nghĩ cứng nhắc trong mỗi loại hình sân khấu kể trên.

Phần 1. Kịch nói.

Trong phần một của bộ phim này thì chúng ta không thấy vở kịch, mà là một buổi diễn tập thường ngày ở nhà hát. Ngài đạo diễn nóng tính cố gắng để cho các diễn viên diễn xuất tử tế một tý, nhưng có rất nhiều trở ngại. Các bạn có thể thấy, cái anh diễn viên đóng vai con chim cúc cu trong đồng hồ, với lời thoại chỉ có … 5 lần kêu “Cúc cu” ở đầu vở kịch thôi, thế mà mãi không thuộc lời thoại. Bác thợ săn, vốn theo ý đồ của đạo diễn là phải khát máu, nhưng thực tế lại rất hiền lành, nên bắn Thỏ rất nhẹ. Đạo diễn bực quá, bèn ném khẩu súng giả của bác thợ săn đi, và chạy theo con đường vẽ trên phông của sân khấu để đi lấy súng thật. Kết quả là Thỏ xuất hiện trên nạng gỗ, và đạo diễn tuyên bố – tuyệt lắm, bây giờ diễn tập bắt đầu lại từ đầu.

Mình khá là thích những lời thoại ở màn này, rất châm biếm và hài hước.

Стоп! Когда вы будете знать текст! Автор думал, слова подбирал, понимаете…

Stop! Khi nào các vị mới thuộc thoại! Tác giả suy nghĩ, cân nhắc từng từ, hiểu không…

Какая-то в этом есть натяжка… От такого выстрела не умрёшь. Ну, не умрёшь. А у автора он умирает…

Có điều gì đó ở đây không ổn… Bắn như thế thì chết thế nào được. Rõ là không chết. Thế mà tác giả viết là thỏ chết…

Phần 2. Operetta

Operetta có lẽ dịch ra tiếng Việt là nhạc kịch hài. Nói chung, thì cũng là một loại hình sân khấu + nhạc, và cũng chơi nhạc từ đầu đến cuối như opera, kỹ thuật hát cũng tương tự như opera, nhưng nói chung là không khắt khe như  opera, vì các nhà soạn nhạc cũng không đòi hỏi điều này. Nội dung của operetta thì luôn luôn có tính hài hước, nhẹ nhàng, âm nhạc cũng nhẹ nhàng hơn có lẽ vì thế mà ca sĩ dùng giọng ngực nhiều hơn so với opera. Mặc dù cũng có ngoại lệ, vở “Con dơi” (Die Fledermaus) của J.Strauss thì độ khó cũng ngang cỡ opera, hoặc một số vở operetta của F. Lehar cũng vậy. Ngoài ra thì operetta thường ngắn hơn opera, và đòi hỏi về diễn xuất, ngoại hình của ca sĩ cũng cao hơn so với opera, tất nhiên là thấp hơn so với sân khấu kịch nói. Thường các vai nữ chính của operetta thì viết cho các giọng soprano, cũng có các vai mezzo đóng vai nam, còn vai nam chính thì thường cả giọng nam cao lẫn nam trung đều có thể hát. Mà nhìn chung cũng không cần phải đọc bài viết này của Nina để biết, vở này là opera hay operetta, thời buổi này cứ tra Google là ra, và nếu trên áp phích của nhà hát ghi là operetta thì chắc chắn đó là operetta rồi 🙂

Trong lúc … giải lao chúng ta ngó qua yêu cầu đối với diễn viên sân khấu nhé. Cái này Nina dịch từ tài liệu tiếng Nga. Tác giả thì thú thật Nina chỉ hơi hơi biết ông thứ ba là một đạo diễn nổi tiếng thôi.

И.А.АКСЕНОВ, В.М.БЕБУТОВ, В.Э.МЕЙЕРХОЛЬД.

ТАБЛИЦА АМПЛУА

(по книге “Амплуа актера”. М., 1922. С.6-11.)

(phần dành cho nam diễn viên)

Anh hùng thứ nhất. Chiều cao trên trung bình. Chân dài. Hai dạng khuôn mặt: rộng (như Mochalov, Salvini) và hẹp (Irving). Ưu tiên cho nghệ sĩ có thể tích đầu trung bình. Cổ dài và tròn. Vai rộng, nhưng vòng 2 và vòng 3 vừa phải. Cánh tay có khả năng biểu cảm tốt. Mắt dọc dài, ưu tiên cho mắt màu sáng. Giọng nói khỏe, âm vực lớn, giàu âm sắc. Giọng nằm ở khoảng từ nam trung nghiêng về nam trầm

Anh hùng thứ 2. Chấp nhận có chiều cao thấp hơn, giọng nói cao hơn, ít đòi hỏi hơn so với anh hùng thứ nhất.

Người tình thứ nhất. Chiều cao không dưới trung bình. Chân dài. Mắt và miệng có tính biểu cảm cao. Giọng nói có thể cao (tenor). Không được béo.

Người tình thứ 2. Đòi hỏi ít hơn. Có thể chấp nhận chiều cao kém hơn trung bình một chút. Không được béo.

Trong operetta các ca sĩ không phải hát liên tục, các tác giả dùng cả các đoạn đối thoại để phát triển tình huống (thế nên ca sĩ đỡ mất sức hơn). Nói chung thì libretto của operetta nhẹ nhàng hơn so với opera, không có những mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết bằng cách lấy đi mạng sống của một vài nhân vật chính, thường thì có vài đôi tình nhân, trong vở operetta sẽ trải qua vài cuộc hiểu nhầm rắc rối, nhưng cuối cùng hiểu nhầm được sáng tỏ, đôi nào về với đôi ấy, và kết thúc hạnh phúc, dù khán giả phải trải qua một số tình tiết rất bất ngờ và không mấy hợp lý (kiểu như bất ngờ nhân vật chính phát hiện anh là hoàng tử ấy).

Trong phần tiểu phẩm nhại Operetta của chúng ta thì cũng thế. Mở màn chúng ta thấy Chàng Thỏ và Nàng Thỏ đang trò chuyện tình cảm, nhưng bất ngờ xuất hiện bá tước ngoại quốc Pif-Paf. Bá tước quyến rũ nàng Thỏ, nàng cũng chẳng phản ứng gì lắm. Nhưng rồi xuất hiện vợ của Pif-Paf, bá tước bỗng nhiên nguội lạnh hết mọi tình cảm với Nàng Thỏ và bỏ đi với vợ. Sau đó thì Chàng Thỏ và Nàng Thỏ trở lại với nhau, và vở diễn kết thúc bằng một màn múa tưng bừng đặc trưng cho các kết thúc hạnh phúc trong operetta.

Phần này về nội dung thì Nina đánh giá là yếu hơn các phần khác, nhưng cũng đảm bảo đầy đủ những điều cần thiết của operetta, cũng đủ buồn cười.

Phần 3. Vở kịch thiếu nhi

Trong phần này, vở kịch thiếu nhi diễn ra nhanh đến nỗi điếu thuốc của bác đạo diễn hút trước khi bắt đầu vở kịch còn chưa kịp tàn. Theo kịch bản, thì Thỏ con Không Vâng Lời, do một nữ diễn viên béo, tuổi cũng khá (chắc là nữ diễn viên chính của nhà hát) sắm vai bị lạc đường trong rừng. Và nguyên nhân của vụ lạc đường này là do –

Я мамочку часто не слушал
Я плохо морковочку кушал
Я баиньки поздно ложился

Tôi thường không nghe lời mẹ
Tôi lười không ăn cà rốt
Tôi lại đi ngủ muộn

Sau đó thì người Thợ săn nham hiểm xuất hiện, và sử dụng một tiểu xảo cũ rích với khán giả thiếu nhi – hỏi xem Thỏ chạy hướng nào. Hai phát súng, Thợ săn vác Thỏ lên lưng (cùng với cả gốc cây) và vác ra khỏi sân khấu. Sau đó Thợ Săn, Thỏ, và đạo diễn cùng hát một bài hát mang đầy tính răn dạy trẻ con, và thế là kết thúc phần này.

Mình thì thấy vẽ trẻ con rất sinh động, đứa thì ngoáy mũi, đứa thì nhai bỏng ngô, bọn khác thì lại rụt đầu xuống khi thấy cảnh “bạo lực đáng sợ” trên sân khấu. Phần lồng tiếng cho bọn trẻ cũng thế. Còn nữ diễn viên thì … đúng kiểu đào chính tỉnh lẻ.

Phần 4. Vở kịch thử nghiệm

Phần này thì nói ngay là nhại cái vở musical đình đám ở Liên Xô thời những năm 7x – “Jesus Christos – siêu sao“. Mình cũng thú thật là chả thích vở này, cũng chỉ xem loáng thoáng đâu đó trên TV thôi, nhưng cái nét nhạc chính và không khí thì đúng như ở cái phần “Suy nghĩ đi, suy nghĩ đi” ấy.

Và phần thể hiện cũng khá hài hước. MC tuyên bố, rằng bây giờ sẽ trình diễn vở kịch “Pif – Paf” với tham vọng lật lại vấn đề “Thợ săn và thỏ: ai đúng, và ai không đúng…” Thế rồi trên màn hình là bóng của Thợ săn giết bóng của Thỏ, và MC tuyên bố – vở kịch kết thúc! Sau đó là bài hát (sử dụng giai điệu từ musical kia). Mình thấy, cái kiểu diễn viên thử mic trước vở diễn đã buồn cười, cái kiểu vở diễn mượn tiếng thử nghiệm mà rỗng tuếch, lấy cái ước lệ để che đậy nội dung nhảm nhí thì cũng chẳng hiếm hoi gì trong cuộc sống :).

Phần 5. Opera.

Xin nói ngay là phần này là phần mình quan tâm nhất phim, và chính vì phần này mình mới nảy ra ý tưởng làm phụ đề cho phim. Vì chưa bao giờ mình lại thấy một clip sinh động đến thế về opera, trích đoạn này là một mẫu mực dành cho các tenor – họ cần xem kỹ trích đoạn này để hiểu, một tenor thực sự phải có bề ngoài thế nào, di chuyển trên sân khấu và hát ra sao. Chưa kể, phần đầu còn châm biếm sự “mượn nhạc” và ngụy biện bằng những ngôn từ cao siêu 🙂

Và chính để nhại sự “mượn nhạc” này, mà phần nhạc đoạn này đầy những “trích dẫn” của Tchaikovsky và Bizet. Phần Thỏ hát đầu tiên thì đương nhiên là lấy từ “Con đầm Pích” (Pique Dame của Tchaikovsky). Vốn là cái cuộc đấu súng thì đã là từ vở “Evgeny Onegin”, chỉ có điều nguyên nhân là củ cà rốt bị cắn dở. Rồi lại còn cái fermata ấn tượng trong đoạn

“Tình yêu của tôi –
Cà rốt của tôi!
Tôi mãi mãi là của em,
Cà rốt của tôi!”

thì mình sẵn sàng thề là cái fermata ấn tượng này là chôm nguyên xi từ cái aria “La fleur que tu m’avais jeté” (Bông hoa em đã ném cho tôi – Flower song) nổi tiếng của Don Jose trong “Carmen” của Bizet, chính là cái câu cái câu “Et j’étais une chose à toi” ngay trước phần kết thúc ấn tượng của aria này “Carmen, je t’aime!”

Tất nhiên là mình nghe còn ít, nên còn nhiều đoạn chưa “nhận ra”.

Phần này nói chung là mình rất thích, từ đoạn mỗi một từ dàn hợp xướng có khẩu hình y chang nhau rất buồn cười, rồi cách diễn của tenor thì … đúng là tenor số 1 điển hình của một nhà hát tỉnh lẻ, nốt cao trong đoạn “Ôi ôi ôi” thì kết thúc đúng kiểu tenor với hai tay giơ lên cao. Rồi thì thợ săn lại có ngoại hình y như Ivan IV trong cái phim của Eisenstein, mình cũng chưa hiểu tại sao, nhưng rất buồn cười. Lời hát (libretto) cũng rất nhảm nhí và buồn cười, nhưng mà xin lỗi, nói chung lời của opera thì đại loại vốn thế mà. Còn phần kết thúc của dàn hợp xướng thì … đúng kiểu cabaletta, rất sôi động.

Thế đấy, nói chung là xem phim này mình thấy rất vui, sảng khoái, bõ công mình làm phụ đề. Hy vọng là ai đó cũng thấy vui, thế là tốt rồi.

À quên, phụ đề có thể download ở đây: http://www.box.net/shared/h3jo21r2x8

Còn phim thì các bạn đọc thân mến có thể tìm trên mạng 🙂

Phần thông tin về phim

Đạo diễn: Garry Bardin, Vitaly Sands
Biên kịch – Yuri Entin
Họa sĩ – Vitali Sands
Quay phim? – Igor Shkamarda
Âm nhạc – Maxim Dunaevskij
Âm thanh – Nelly Kudrin

Diễn viên lồng tiếng  

Rolan Bykov – Người đi săn , tác giả  Opera
Vladimir Kachan (trong tit của phim ghi là “Kochan”) – diễn viên đóng vai con chim cúc cu
Zhanna Rozhdestvenskaya – hình như là nghệ sĩ operetta
Vladimir Bogachev
Irina Muravyova – nữ diễn viên vai Thỏ Không Vâng Lời
Jan Arlazorov – đạo diễn
Garry Bardin – phát thanh viên
Evgeny Belayev – tenor (cái này mới thấy trên mạng nói, không rõ đúng không)

Advertisements

2 thoughts on “Giới thiệu phim hoạt hình “Pif-paf, ôi-ôi-ôi!”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s