Yuri Gagarin – Anh ấy là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược – phần 2

Vì một entry chỉ có thể gồm 65536 ký tự nên buộc phải tách cái bài viết này làm 2 phần. Xin đọc phần 1 ở đây:

Yuri Gagarin – Anh ấy là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược – Phần 1

Thật ra phần này kể cũng khá dài. Ngay cả bây giờ, sau khi đã dịch trường ca “Mùa lá rụng” của Bunin mình cũng vẫn thấy bài thơ này dài. Tuy nhiên – ngay khi vừa đọc bài thơ này mình đã bị chinh phục. Trước đó mình luôn nghĩ – Vladimir Vysotsky nổi tiếng thế hẳn là do PR mà thôi. Nhưng sau khi đọc bài thơ này thì mình buộc phải thay đổi suy nghĩ của mình về Vysotsky – anh ta có cảm nhận hết sức tinh tế! Rất nhiều đoạn đúng như suy nghĩ của mình, chưa kể còn những đoạn bình luận của Georgy Grechko nữa – còn ai hiểu về suy nghĩ của nhà du hành vũ trụ trong chuyến bay hơn chính các đồng nghiệp của anh?

Và trong sự khâm phục ấy, mình đã dịch cả bài thơ trên trong vòng 3 ngày thì phải. Thực sự là dịch trong sự khâm phục, và dịch xong, thì chính mình cũng cảm thấy hài lòng với mình…

Mặc dù sau đó thì vẫn chưa có cơ hội gặp lại Vysotsky qua thơ, qua nhạc…, nhưng “Bài ca về nhà du hành vũ trụ” vẫn là một bản dịch mình rất tâm đắc… Tất nhiên là “văn mình”, nhưng có vẻ là ít nhất, mình đã truyền đạt được giọng điệu hùng tráng của bài thơ, và có nghe được vài lời khen…, nhưng tóm lại mời các bạn đọc…

——————–

Cuối cùng tôi muốn dẫn ra toàn bộ “Bài ca về nhà du hành vũ trụ” của Vladimir Vưsotsky, nhất là vì bài thơ này còn chưa được nhiều người biết đến.

Bài ca về nhà du hành vũ trụ

Là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược.
Tôi sẽ khách quan, và chân thực vô cùng:
Ban đầu mồ hôi trút ra như tắm
Rồi da bốc khói lên, giãn lỗ chân lông.

Tôi cẩn trọng chờ, lặng im, bất động.
Tưởng như tôi quay lại bỗng không
Ngột ngạt trong phòng baro loãng khí
Và những vòng quay vô tận máy ly tâm.

Bây giờ tôi sẽ bất động, tăng trọng lượng,
Và buộc phải im lặng, nhưng bấy giờ,
Đe bễ của bao lò rèn báo chí
Sẽ thổi tung khắp thế kỷ ngọn cờ.

Trí nhớ quất roi vào những sợi thần kinh,
Mỗi hình ảnh đều sáng ngời không lặp lại:
Người dự bị của tôi, người đã có thể trở thành thứ nhất,
Và đã trở thành người đầu tiên thứ hai.

Hiện giờ báo chí còn chưa viết về anh –
Bao tít lớn chỉ dành cho một người duy nhất.
Tôi với anh đi suốt chặng đường cho tới chân thang máy,
Nhưng tôi bước lên không có anh bên.

Rồi đây nữa, người vạch đường quỹ đạo,
Thế giới này còn chưa biết mặt ông.
Tôi biết, giờ ông đang ở trong phòng bí mật
Cân nhắc thêm đường chinh phục không trung.

Những gương mặt gia đình bè bạn
Hiện lên như sau một màn sương.
Ít nữa thôi họ sẽ cùng nhau kể
Chuyện đời mình cho báo chí văn chương.

Tất cả những ai tôi lớn lên bên cạnh,
Sẽ được đưa thành nhân chứng tự nhiên.
Tuổi thơ tôi chân đất bình thường nhất
Sẽ được mang giày và ghi vào sử biên niên.

Lệnh “Khởi động” – giống như tiếng thét –
Bỗng hiện ra, treo lơ lửng trên đầu.
Mọi người nói những gì không rõ.
Nước bọt nóng chảy rồi, họ nhổ đi đâu.

Và xoáy lốc cảm xúc thổi tắt đi đám cháy tâm hồn,
Và tôi không dám, hay tôi quên không thở.
Hành tinh giơ tay kéo tôi lần cuối,
Ôm chặt tôi vào, không dám buông ra.

Và kilogam biến thành hàng tấn nặng nề,
Đôi mắt dường như lồi ra ngoài quỹ đạo
Lần đầu tiên mắt phải nhìn kinh ngạc
Sang mắt trái mở to hàng mi chẳng hề che.

Tiếng thét hay tiếng rên đã che miệng lại.
Tôi gắn chặt vào ghế bành như thân với rễ cây.
Đã đến lúc ăn hết phần nhiên liệu
Tầng đầu tiên tên lửa tách ra đây.

Dưới tôi còi báo động kêu rộn rã,
Không rõ chôn tôi hay chở che tôi.
Còn ở đây động cơ kêu như sấm
Lôi tôi ra khỏi tay trái đất rồi.

Máy móc dưới đất đã bình tĩnh lại,
Trời đất lại cùng nối bước ngày xuân.
Đôi mắt của tôi trở về chỗ cũ,
Tăng trọng hết rồi, giờ im lặng bâng khuâng

Cuộc thử nghiệm bước vào giai đoạn khác.
Nhịp tim trong máy đo đã điềm tĩnh lại hơn.
Tôi bỏ qua chiều, ngay lập tức bay vào đêm,
Và được lệnh nghỉ ngơi, một chút.

Và trong dải tần tràn đầy giọng nói,
Nhưng Lêvitan xông vào, như vào cung thể thao.
Ông nói từng chữ rất to và rất rõ:
“Người đầu tiên trên đời!” – nói mới tốt làm sao.

Tôi tháo mũ bảo hiểm ra cầm tay,
Phát biểu về những gì tôi cảm thấy…
Và bỗng dưng sao nhẹ nhàng quá vậy,
Thật đáng ngạc nhiên, đến nỗi buồn nôn.

Dây micro dường như đang tự cuốn,
Phổi leng keng đập phải xương sườn.
Và có lúc tim mắc vào cuống họng
làm tôi ngạt trong một khoảnh khắc hay hơn

Tôi báo cáo chân thành, theo điều lệnh,
Nói rõ ràng và súc tích, rất vui.
Tôi nghĩ: ồ, đó là không trọng lượng,
Tôi chẳng nặng gì – nặng chút xíu thôi!

Nhưng phút ấy trong chuyến bay tôi đâu biết,
Khi đùa với sự không trọng lượng lạ đời,
Rằng vì đó sau này nôn ra máu
Và can xi trong xương sẽ bị rửa trôi.

* * *

Ngay lập tức, những gì tôi nhớ được,
Tôi đọc vào băng, thậm chí viết tay.
Nhưng những ý nghĩ vẫn bay tản mạn
Và đập sườn vào cuốn nhật ký chuyến bay.
Tôi đếm được nhiều ý nghĩ to, rõ nét,
Và những ý nghĩ nhỏ bơi giữa chúng lượn trôi,
Nhưng không trọng lượng đã cân bằng chúng lại –
Sau này sẽ biết cái nào quan trọng hơn thôi.
Còn tôi bắt lấy ý nghĩ nào bắt được.
Tôi kéo đuôi sợi cáp mỏng vô hình.
Ý nghĩ đầu tiên hiện ra, rồi đứt ngay lập tức
Chỉ còn một từ “Không có lỗi!”, mà thôi
Nhưng “không có lỗi” đâu phải “không liên quan”
Ở đất Nga bao đời nay là thế.
Chúng tôi đâu bốc thăm, – đó là hạnh phúc
trong phút giây nào đã nháy mắt với tôi,
Và một đảng viên, thiếu tá, bỗng thành ngang những ngôi sao
Giữa “số không” và khởi hành, chắc có ai ảo giác,
Hay là thư ký viên vì sợ hãi đã nhầm ghi,
Rằng tôi sảng khoái, có chút làm dáng nữa,
Nói rất thản nhiên, can đảm “Nào ta đi!”.

Nguyên bản tiếng Nga

«Поэма о космонавте»

Я первый смерил жизнь обратным счетом.
Я буду беспристрастен и правдив:
Сначала кожа выстрелила потом
И задымилась, поры разрядив.

Я затаился и затих, и замер.
Мне показалось, я вернулся вдруг
В бездушье безвоздушных барокамер
И в замкнутые петли центрифуг.

Сейчас я стану недвижим и грузен,
И погружен в молчанье, а пока,
Меха и горны всех газетных кузен
Раздуют это дело на века.

Хлестнула память мне кнутом по нервам,
В ней каждый образ был неповторим:
Вот мой дублер, который мог быть первым,
Который смог впервые стать вторым.

Пока что на него не тратят шрифта –
Запас заглавных букв на одного.
Мы с ним вдвоем прошли весь путь до лифта,
Но дальше я поднялся без него.

Вот тот, который прочертил орбиту,
При мне его в лицо не знал никто.
Я знал: сейчас он в бункере закрытом.
Бросает горсти мыслей в решето.

И словно из-за дымовой завесы
Друзей явились лица и семьи.
Они все скоро на страницах прессы
Расскажут биографии свои.

Их всех, с кем знал я доброе соседство,
Свидетелями выведут на суд.
Обычное мое, босое детство
Обуют и в скрижали занесут.

Чудное слово «Пуск» – подобье вопля –
Возникло и нависло надо мной.
Недобро, глухо заворчали сопла.
И сплюнули расплавленной слюной.

И вихрем чувств пожар души задуло,
И я не смел или забыл дышать.
Планета напоследок притянула,
Прижала, не рискуя отпускать.

И килограммы превратились в тонны,
Глаза, казалось, вышли из орбит,
И правый глаз впервые удивленно
Взглянул на левый, веком не прикрыт.

Мне рот заткнул – не помню – крик ли, кляп ли.
Я рос из кресла, как с корнями пень.
Вот сожрала все топливо до капли
И отвалилась первая ступень.

Там, подо мной, сирены голосили,
Не знаю – хороня или храня.
А здесь надсадно двигатели взвыли
И из объятий вырвали меня.

Приборы на земле угомонились,
Вновь чередом своим пошла весна.
Глаза мои на место возвратились,
Исчезли перегрузки – тишина.

Эксперимент вошел в другую фазу.
Пульс начал реже в датчики стучать.
Я в ночь влетел, минуя вечер, сразу,
И получил команду отдыхать.

И стало тесно голосам в эфире,
Но Левитан ворвался, как в спортзал.
Он отчеканил громко: «Первый в мире!»
Он про меня хорошее сказал.

Я шлем скафандра положил на локоть,
Изрек про самочувствие свое…
Пришла такая приторная легкость,
Что даже затошнило от нее.

Шнур микрофона словно в петлю свился,
Стучали в ребра легкие, звеня.
Я на мгновенье сердцем подавился –
Оно застряло в горле у меня.

Я отдал рапорт весело, на совесть,
Разборчиво и очень делово.
Я думал: вот она и невесомость,
Я вешу нуль, так мало – ничего!

Но я не ведал в этот час полета,
Шутя над невесомостью чудной,
Что от нее кровавой будет рвота
И костный кальций вымоет с мочой.

* * *

Все, что сумел запомнить, я сразу перечислил,
Надиктовал на ленту и даже записал.
Но надо мной парили разрозненные мысли
И стукались боками о вахтенный журнал.
Весомых, зримых мыслей я насчитал немало,
И мелкие сновали меж ними чуть плавней,
Но невесомость в весе их как-то уравняла –
Там после разберутся, которая важней.
А я ловил любую, какая попадалась.
Тянул ее за тонкий невидимый канат.
Вот первая возникла и сразу оборвалась.
Осталось только слово одно: «Не виноват!»
Но слово «невиновен» – не значит «непричастен», –
Так на Руси ведется уже с давнишних пор.
Мы не тянули жребий, – мне подмигнуло счастье,
И причастился к звездам член партии, майор,
Между «нулем» и «пуском» кому-то показалось,
А может – оператор с испугу записал,
Что я довольно бодро, красуясь даже малость,
Раскованно и браво «Поехали!» сказал.

 

 

Về tác giả

 

Tác giả cuốn sách – Georgy Mikhailovich Grechko – nhà du hành vũ trụ Nga, hai lần Anh hùng Liên Xô (1975, 1978). G.Grechko sinh năm 1931, từ năm 1955 làm việc tại Văn phòng thiết kế của S.P.Korolev. Từ năm 1967 – ở trong đội các nhà du hành vũ trụ. Đã thực hiện ba chuyến bay vào vũ trụ – lần thứ nhất năm 1975 cùng với A.A.Gubarev, lần thứ hai năm 1977 cùng Iu.V.Romanenko, lần thứ ba năm 1985 cùng với V.V.Vasiutin và A.A.Volkov. Tiến sĩ khoa học toán-lý. Tác giả những cuốn sách “Hành tinh trên ảnh” (В кадре – планета. М., 1984), “Xuất phát vào nơi không rõ” (“Старт в неизвестность”. М., 1989).

Bài “Yuri Gagarin – Anh ấy là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược” là một chương trong cuốn sách “Xuất phát vào nơi không rõ” (“Старт в неизвестность”. М., 1989) với tiêu đề “Anh ấy là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược”. Người dịch cho thêm 2 chữ vào đầu đề để … rõ hơn thôi.

Advertisements

3 thoughts on “Yuri Gagarin – Anh ấy là người đầu tiên đo cuộc đời bằng đếm ngược – phần 2

  1. Rất kỳ lạ là bài thơ được viết như chính tác giả đang là người đang đi ra thang máy, đang trải qua các thử nghiệm, đang ngồi trong con tàu chờ những lời đếm ngược… Và cái hay của bản dịch này là qua đó ta đã cảm nhận được tài năng của Vladimir Vưsotsky, cảm nhận được những trải nghiệm khốc liệt của các nhà du hành vũ trụ rồi…

  2. Tôi cũng cho là như vậy. Ngệ sĩ lớn (nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, điêu khắc gia… cỡ bậc thầy) thường có những tài năng phi phàm. Phải, là phi phàm như vậy… Tôi cũng cho rằng, ngay các nhà du hành, người nhận ra tài năng của Vladimir Vưsotsky, họ cũng là những người phi phàm, khi có những nhận xét buồn bã về các bài báo sáo rỗng về họ (xem phần 1).

    Thế mới biết, để tìm được tri kỷ (như Bá Nha và Tử Kỳ, như các nhà du hành và V.Vưsotsky tìm thấy nhau…) chẳng phải dễ dàng gì…

  3. Vâng, đó cũng là điều làm em ngạc nhiên nhất – không hiểu bằng cách nào Vysotsky đã cảm nhận được những điều đó… Hay là bằng cảm nhận của trái tim một nhà thơ, một diễn viên, nghệ sĩ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s