Chim sơn ca – Nestor Kukolnik, Mikhail Glinka

Chẳng hiểu sao bài này dịch rồi mà lại chưa đưa lên blog. Là do trang Nhạc cổ điển đưa lên, và giọng hát của Lemeshev thì luôn làm mình bị cuốn hút… Mình cũng không rõ, có gì trong giọng hát ấy lại cuốn hút thế? Vẻ đẹp của âm sắc, của các nốt cao sáng rõ, nhẹ nhàng, trữ tình, và có gì đó rất chân thành chăng?

“Жаворонок”. Михаил Глинка, Нестор Кукольникюю. Тенор Сергей Лемешев

Chim sơn ca. Mikhail Glinka, Nestor Kukolnik. Tenor Sergei Lemeshev

ЖАВОРОНОК

Музыка Михаила Глинки
Слова Нестора Кукольника

Между небом и землей
Песня раздается,
Неисходною струей
Громче, громче льется.

Не видать певца полей,
Где поет так громко
Над подруженькой своей
Жаворонок звонкий.

Ветер песенку несет,
А кому – не знает…
Та, кому она, поймет,
От кого – узнает!

Лейся, песенка моя,
Песнь надежды сладкой:
Кто-то вспомнит про меня
И вздохнет украдкой.
1840

CHIM SƠN CA

Nhạc Mikhail Glinka
Lời thơ: Nestor Kukolnik

Giữa bầu trời mặt đất
Một bài ca ngân nga,
Như dòng suối bất tận
Càng chảy càng vang xa.

Không thấy đâu ca sĩ
Hát sang sảng giữa đồng
Là sơn ca say đắm
Hót cho bạn tình nồng

Gió mang bài ca đi
Đem cho ai – không rõ
Nhưng cô nàng sẽ tỏ
Rằng bài hát từ đâu.

Hãy ngân xa, bài hát
Hy vọng ngọt chưa phai:
Ai đó nhớ tôi đấy
Và vụng trộm thở dài.
1840

Volga, sông sâu thăm thẳm – dân ca Nga

Bỗng dưng tìm được một bản dịch cũ một bài dân ca về sông Volga …

 

reka_Volga_photographoya_2-1Sông Volga. Hình ảnh trên mạng, chỉ có tính minh họa

Ai cũng biết, văn minh nhân loại hình thành bên những con sông. Sông Volga có vai trò đặc biệt đối với người Nga – con sông mẹ, con sông xinh đẹp, con sông thần thánh. Nên trong dân ca Nga, có nhiều bài hát về sông Volga là đương nhiên thôi…

Волга-реченька глубока

(русская народная песня)

Волга-реченька глубока
Бьет волнами берега.
Мил уехал, не простился,
Знать, любовь не дорога.

Ой, туманы голубые,
Серебристая волна.
Неужели ко мне милый
Не вернется никогда!

Цвела вишня всем на диво,
Ветром сдуло белый цвет.
Я б другого полюбила,
Да Любови в сердце нет.

Возле бережка крутого
День и ночь волна шумит.
Хорошо любить такого,
Кто любовью дорожит.

Volga, sông sâu thăm thẳm

Dân ca Nga

Ôi Volga, sông sâu thăm thẳm
Tiếng sóng vỗ bờ như tiếng vọng con tim.
Người yêu ra đi không nói lời từ biệt
Có nghĩa là chẳng quý trọng tình em.

Ôi những màn sương mù xanh biếc,
Và những con sóng bạc dưới trăng thâu,
Có lẽ nào chàng sẽ không trở lại
Không bao giờ trở lại với em đâu!

Vườn anh đào nở đầy hoa xinh đẹp,
Một cơn gió về, cánh hoa trắng tung bay.
Ôi giá như em yêu người khác,
Nhưng trong tim tình yêu chẳng có đây.

Ở nơi đó, gần bờ dốc đứng
Sóng vỗ bờ chẳng kể ngày đêm.
Thật là tuyệt nếu yêu người ấy,
Người biết trân trọng mối tình em.

Còn clip minh họa – mình chọn Alla Solenkova. Các ca sĩ xưa hát có gì đó trong sáng rất cuốn hút.

Алла Соленкова Волга реченька Русская народная песня
Alla Solenkova Volga-river Russian Folk Song

Ch’ella mi creda – Hãy để nàng tin

Nhờ có Facebook nhắc lại kỷ niệm mà mình bỗng tìm được một bản dịch cũ. Dù sao cũng 2 tháng rồi (một tỷ năm nghe điêu quá) blog mình không có gì mới mẻ.

Chẳng hiểu do đường truyền chậm, hay do cái laptop tội nghiệp của mình đã đến lúc phải thay, mà clip bây giờ nghe rất chán. Dù trước đây mình thấy cũng khá mà. Năm 1983 là năm mà phong độ giọng hát của Placido Domingo đang ở đỉnh cao, vai diễn này cũng là vai tủ của chàng. Thôi, độc giả ít ỏi của mình chịu khó nghe vậy, không thì đi tìm bản khác.

Placido Domingo – Ch’ella mi creda
from Puccini’s “La Fanciulla del West” at Covent Garden 1983

Vở opera La fanciulla del West (Cô gái từ phương Tây) của Giacomo Puccini là một trong những vở opera hiếm hoi của ông có kết cục không bi kịch. Đây là vở opera viết theo đặt hàng của một trong những nhà hát opera danh tiếng nhất thế giới – Metropolitan Opera. Hiển nhiên, lần trình diễn đầu tiên trước công chúng của vở opera này là trên sân khấu Metropolitan Opera tại New York ngày 10/12/1910.

Nội dung của vở opera cũng rất đặc trưng cho nước Mỹ thời bấy giờ – về những người tìm vàng trong cơn sốt vàng thời những năm 1850. Và vai nam chính Dick Johnson hay Ramerrez trong lần ra mắt đầu tiên do giọng tenor huyền thoại Enrico Caruso thể hiện.

Aria “Ch’ella mi creda” của Dick Johnson có lẽ là aria nổi tiếng nhất của cả vở. Bối cảnh của aria rất đơn giản và cũng rất lâm ly bi đát. Đây là lời trăng trối trước khi nhân vật nam chính bị treo cổ, và đương nhiên là chàng nhắn gửi đến người yêu.

Hãy để nàng tin, tôi đã tự do
Và xa lắm trên con đường mới!…
Nàng sẽ đợi chờ tôi quay lại…
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
Và tháng ngày rồi sẽ qua đi,
và tôi sẽ không quay trở lại.
và tôi sẽ không quay trở lại.
Minnie, đóa hoa duy nhất của đời tôi,
Minnie, nàng đã rất yêu tôi!
Rất yêu!
Ôi, nàng là đóa hoa duy nhất của đời tôi!
Ch’ella mi creda libero e lontano
sopra una nuova via di redenzione!…
Aspetterà ch’io torni…
E passeranno i giorni,
E passeranno i giorni,
ed io non tornerò…
ed io non tornerò…
Minnie, della mia vita mio solo fiore,
Minnie, che m’hai voluto tanto bene!…
Tanto bene!
Ah, tu della mia vita mio solo fior!

Thật tình aria này ó rất nhiều người thể hiện thành công, nhưng mình vẫn bị Domingo thuyết phục nhất.,

Thác nước – nhiều tác giả

Một tỷ năm chẳng dịch được gì, bỗng dưng sáng nay nổi hứng  🙂

Một bài thơ trên mạng, không rõ tác giả. Khả năng là trên mạng, ai đó làm một khổ thơ đầu, rồi người khác nối tiếp. Rồi các chị trích dẫn và đến mình đọc, thì trong phút rảnh rỗi sau bữa sáng rất muộn, tự dưng ngồi dịch.

Ảnh minh họa thì lấy Thác Bản Giốc cho đậm đà bản sắc dân tộc, ảnh cũng đẹp mà

hung-vi-thac-ban-gioc-4_resize

Водопад

Среди глыб с горы высокой
Ручьи веселые спешат,
И вдруг, сливаясь в сток широкий,
Являют грозный водопад.

Громады волн гребнями хлещут
В паденье быстром и крутом
И, разбиваясь, ярко блещут
Вокруг сверкающим дождем.

Протяжный гул ревет и стонет
По тихой матери – реке.
И, наигравшись с пеной влажной,
Смолкает кротко вдалеке.

А я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно.

А капли попадают на глаза,
На нос, на губы и на руки тоже,
Я вся уж мокрая. Наверное, сейчас
Я на котенка мокрого похожа.

Но я иду, ловлю губами дождь
И все печали, горести смываю.
Я самый чистый и невинный человек
(Я только в дождь всегда такой бываю).

Да, я люблю дождливую погоду,
Когда прохожих нет ни одного,
Когда темно становится на улице,
И зажигаешь ты свое окно…

Thác nước

Giữa những đá tảng trên ngọn núi cao
Những con suối nhỏ vui vội vã,
Rồi nhập thành một dòng sông cả,
Bỗng hiện ra một thác nước hung tàn

Những ngọn sóng khổng lồ gào thét
Rồi chúng rơi, thẳng đứng, rất nhanh
Rồi vỡ ra, và sáng lên lấp lánh
Thành cơn mưa rực rỡ xung quanh.

Một tiếng thét, tiếng rên dằng dặc,
Gọi người mẹ hiền lặng lẽ – con sông.
Nhưng chơi chán bọt sóng kia ẩm ướt
Lặng yên dần theo khoảng cách mông lung.

Em thì thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Những giọt mưa cũng rơi xuống mắt,
Xuống mũi, xuống môi và xuống đôi tay.
Em ướt hết. Có lẽ giờ này ấy
Em giống con mèo nhỏ ướt lắm thay.

Nhưng em đi, giọt mưa môi thấm.
Và rửa đi những sầu khổ, đau buồn,
Em lại trở thành người vô tội
Chỉ trong mưa em mới thế, luôn luôn.

Và em thích khi trời mưa xuống,
Khi xung quanh không bóng kẻ qua đường
Khi màn đêm buông xuống trên đường phố
Và anh thắp lên khung cửa sổ thân thương.

Gọi là khai bút cũng tạm được 🙂

Buổi chiều buông khói tỏa – Esenin

Một tỷ năm mới lại có hứng thú dịch thơ, ăn theo chị Quỳnh Hương, và lần này là thơ của Esenin

Nhưng mà mình không dịch được thơ sến, mình toàn dịch thành vè 🙂

*  * *
Buổi chiều buông khói tỏa
Mèo ngủ trên thanh dầm,
Ai cầu nguyện âm thầm
“Giê-su-ma, lạy chúa”.

Ánh hoàng hôn rực lửa,
Sương mù lan dần ra,
Cửa sổ chạm trong nhà
Buông tấm rèm nhung đỏ.

Nhà kho vàng nho nhỏ
Mạng nhện dệt đăng ten
Có tiếng chuột chút chít,
Trong căn buồng kế bên…

Nơi bìa rừng trảng cỏ
Lúa mì bó vàng tươi,
Những cây thông hùng vĩ
Như mũi giáo chọc trời.

Cánh rừng thưa tỏa khói
Dưới những giọt sương đêm
Yên lặng và thánh tích
An nghỉ trong trái tim.

*  * *
Задымился вечер, дремлет кот на брусе,
Кто-то помолился: “Господи Исусе”.

Полыхают зори, курятся туманы,
Над резным окошком занавес багряный.

Вьются паутины с золотой повети.
Где-то мышь скребется в затворенной клети…

У лесной поляны — в свяслах копны хлеба,
Ели, словно копья, уперлися в небо.

Закадили дымом под росою рощи…
В сердце почивают тишина и мощи.

1912

Giờ em đã không còn cười nữa – Anna Akhmatova

Bài thơ này thì hình như mình đã dịch rồi, nhưng bị thất lạc trong quá trình lưu trữ 🙂

Анна Ахматова
Я улыбаться перестала,
Морозный ветер губы студит,
Одной надеждой меньше стало,
Одною песней больше будет.

И эту песню я невольно
Отдам на смех и поруганье,
Затем, что нестерпимо больно
Душе любовное молчанье.

Anna Akhmatova
Giờ em đã không còn cười nữa
Gió lạnh làm buốt giá đôi môi,
Một hy vọng giờ không còn nữa,
Một bài ca thêm với cuộc đời.

Em vô tình đem bài hát ấy
Cho cuộc đời chửi rủa, nhạo cười,
Bởi tâm hồn đau không chịu nổi
Khi tình yêu chỉ im lặng mà thôi.

Vợ của thánh Lót – Anna Akhmatova

Thêm một bài được đặt hàng. Có lẽ là mình chưa thấm được bản gốc, nên bản dịch hơi lủng củng

Thánh Lót ở đây là thánh Lót trong Kinh Thánh. Khi Chúa trời quyết định trừng phạt hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ đầy tội ác, thì chỉ có Lót và gia đình được cứu thoát – hai thiên sứ dẫn Lót và gia đình ra khỏi thành phố này, và dặn họ cứ đi, không được nhìn lại. Tuy nhiên vợ của thánh Lót đã lỡ nhìn lại thành phố Sô-đôm bốc lửa, và bị biến thành tượng muối (Sáng thế ký, chương 19).

800px-Flight_of_LotThánh Lót chạy khỏi Sodom. Tranh của Gustave Dore.

Лотова жена

Анна Ахматова

И праведник шел за посланником Бога,
Огромный и светлый, по черной горе.
Но громко жене говорила тревога:
Не поздно, ты можешь еще посмотреть
На красные башни родного Содома,
На площадь, где пела, на двор, где пряла,
На окна пустые высокого дома,
Где милому мужу детей родила.
Взглянула – и, скованы смертною болью,
Глаза ее больше смотреть не могли;
И сделалось тело прозрачною солью,
И быстрые ноги к земле приросли.

Кто женщину эту оплакивать будет?
Не меньшей ли мнится она из утрат?
Лишь сердце мое никогда не забудет
Отдавшую жизнь за единственный взгляд.
(1924)

Vợ của thánh Lót

Anna Akhmatova

Và thánh Lót bước đi sau thiên sứ của Chúa trời
Cao lớn, sáng ngời, theo núi đen từng bước
Nhưng nỗi lo lắng nói to cùng người vợ:
Vẫn còn chưa muộn, em hãy nhìn nữa
Những tháp đỏ thành phố Sodom thân thương
Nơi ngày xưa em hát ở quảng trường
Nơi kéo sợi ngoài sân, khung cửa sổ ngôi nhà.
Nơi những đứa con em đã sinh ra.
Nàng nhìn lại, và cơn đau chết chóc.
Khóa lấy người – mắt không còn nhìn thấy;
Thân thể nàng trở thành muối trong suốt
Cặp chân nhanh gắn chặt xuống đường.

Ai sẽ khóc cho người đàn bà ấy?
Mất mát của nàng có phải cũng ít thôi?
Nhưng có điều không quên được trong tôi
Cuộc đời hiến dâng vì cái nhìn duy nhất.
(1924)